Quyển 9: Trôi Dạt U Minh & Vực Sâu Cầm Cố
Chương 4: Tiền Đồn Phế Khảm
Trầm Hương Giải Chấp - Xuyên Nhanh
Mục lục
137 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 137/137 chương
Sương mù phương Nam không tan đi khi bình minh tới, mà chỉ chuyển dần từ màu đen đục sang một thứ sắc xám nhờ nhờ, dính nhớp như nước vo gạo.
Tiếng máy hơi nước của chiếc sà lan chở xỉ than rốt cuộc cũng tắt hẳn sau một tiếng xả áp dài và khô khốc. Con tàu lừ lừ trôi theo quán tính, mũi thép nặng nề va vào một dầm gỗ đệm bọc lốp da cá sấu nổi trên mặt nước, phát ra một tiếng va đập trầm đục làm chấn động toàn bộ khung lườn rỉ sét.
Dưới khoang đáy tăm tối, Thẩm Vân Nhược mở bừng mắt.
Bàn tay trái của nàng lập tức đè chặt lên chuôi đoản đao huyền thiết, ngón tay cái khẽ nhấc gờ đao lên nửa tấc. Nàng không cử động mạnh; cả thân người nàng nép sát vào góc chữ I của dầm thép, đôi tai lắng nghe từng biến động nhỏ nhất truyền qua sàn gỗ mục phía trên đầu. Tiếng xích sắt nặng hàng tạ bị quẳng xuống sàn gỗ rầm rầm, tiếng móc sắt cào vào mạn thuyền bèn bẹt, và tiếng chân người dậm thình thịch báo hiệu con tàu đã cập bến an toàn.
Bên cạnh nàng, Tạ Vô Nhai cũng từ từ ngồi thẳng dậy. Lớp bùn than khô nứt nẻ bám trên ngực hắn rụng xuống lả tả, để lộ ra những đường vân nứt đỏ tía chìm sâu dưới làn da xám tro. Cánh tay trái của hắn vẫn bất động hoàn toàn, năm ngón tay quắp cứng lấy phôi then kim loại xám, cẳng tay được dải vải gai thô buộc chặt vào thắt lưng da thú để giữ thăng bằng. Vết thương nội tạng sau lần cưỡng bức bế khí ở chốt Ba Xoa vẫn âm ỉ nhói buốt nơi cuống tim mỗi khi hắn hít sâu, nhưng ánh mắt hắn đã trở lại vẻ sắc lạnh, câm lặng vốn có.
Vân Nhược nghiêng đầu, nhìn qua khe nứt gãy của cửa xả nước đáy lườn tàu.
Phía bên ngoài, bức màn sương mù mờ đục bị xé toạc bởi hàng trăm đốm lửa than đỏ quạch từ những lò rèn và bếp lò dã chiến. Một mùi vị hỗn tạp xộc thẳng vào khứu giác: Mùi khét lẹt của hắc ín đun sôi dùng để trét lườn thuyền, mùi tanh nồng của mỡ cá ôi thiu, mùi lưu huỳnh bốc lên từ các đống than bùn ẩm ướt, và trên hết là mùi rỉ sét của hàng vạn tấn kim loại phế thải đang dầm mình trong nước mặn.
Tiền đồn Phế Khảm.
Đó không phải là một bến cảng hay một thị trấn được xây dựng trên nền đất cứng. Trải rộng trước mắt bọn họ là một mê cung khổng lồ trôi nổi trên mặt đầm lầy, được kết nối chắp vá bằng xác của hàng trăm chiếc sà lan chở quặng, thuyền sắt mục nát và những chiếc bè gỗ lim đen đúa đã hết hạn sử dụng.
Những chiếc vỏ tàu khổng lồ bám đầy hà sông được xích chặt vào nhau bằng những sợi xích neo to bản, tạo thành những con đường nổi ngoằn ngoèo, gập ghềnh uốn lượn trên mặt nước lợ. Trên mặt sàn của những chiếc sà lan ghép nối ấy, người ta dựng lên những căn chòi lợp bằng tôn rỉ, da thú rách và vải bạt đen. Không có nhà cửa kiên cố, không có bờ cõi phân minh; cả thị trấn dập dềnh theo từng nhịp sóng của đầm lầy, phát ra những tiếng cọt kẹt, rên rỉ cơ học không bao giờ dứt.
Ở đây không có bóng dáng đệ tử đạo môn, không có tuần phiên của triều đình hay quân đội. Nơi đây là chốn dung thân của những phường buôn lậu khoáng thạch, đám thợ rèn đào tẩu khỏi các lò đúc phía Bắc, những tay lái buôn nô dịch và những kẻ cùng đường trốn nợ.
Một thế giới ngầm vận hành thuần túy bằng sự sòng phẳng lạnh lùng của những khế ước nợ và giá trị sử dụng trần trụi của vật chất, nơi U Minh Thương Minh nắm giữ phần lớn huyết mạch vận chuyển và kho bãi nổi.
"Lúc này bọn chúng đang bốc xỉ than ở khoang giữa," Vân Nhược ghé sát tai Tạ Vô Nhai, thanh âm mỏng như một sợi tơ lạnh buốt: "Lách qua cửa xả nước. Đừng chạm vào dây xích neo."
Tạ Vô Nhai khẽ gật đầu.
Hắn trườn người trước, dùng bờ vai phải bọc đầy sẹo lách qua khoảng hở của thanh chấn song sắt mục gãy, thả mình xuống làn nước lợ đen ngòm dưới đáy sà lan mà không phát ra lấy nửa tiếng động. Nước đầm lầy ngập tới thắt lưng hắn, lạnh buốt và đặc quánh bùn quặng. Hắn vươn bàn tay phải thô ráp lên, đón lấy thân hình gầy guộc của Vân Nhược khi nàng lách mình trườn ra ngoài.
Hai bóng người nép sát vào lớp rêu trơn tuột dưới đáy lườn tàu, men theo những hàng cọc sắt đóng chìm dưới nước, luồn lách qua những khoảng tối giữa các thân sà lan san sát nhau.
Mỗi bước đạp chân dưới đáy sông của Tạ Vô Nhai đều phải dè chừng những mẩu xỉ thép và dây cáp đứt ngầm sắc nhọn. Đôi bàn chân trần của hắn đã rách toạc da thịt từ những chặng lội bùn trước, nước mặn xộc vào vết thương nhức nhối đến tận óc, nhưng cơ mặt hắn không hề co giật. Hắn dùng thân hình cao lớn của mình che chắn cho Vân Nhược, dẫn nàng trèo lên một góc sàn gỗ mục nát nằm khuất sau một xưởng vá lườn tàu bỏ hoang ở rìa phía Tây thị trấn nổi.
Bước chân lên mặt sàn gỗ ẩm ướt, Vân Nhược khẽ lảo đảo một nhịp.
Cánh tay phải nẹp gỗ của nàng ép chặt trước ngực rung lên từng đợt đau nhức âm ỉ. Chuyến đi dài ngày trong khoang tàu ẩm mốc, thiếu không khí và chịu ảnh hưởng của hơi muối lưu huỳnh đã bắt đầu tàn phá thể trạng phàm nhân của nàng. Lớp vải gai bó nẹp đã ngả sang màu xám đen, bốc lên mùi ẩm mốc khó chịu.
Nàng đưa mắt quét qua góc tối của khu xưởng vá tàu.
Nơi đây chất đống những bánh răng rỉ sét cao quá đầu người, những tấm thép lá cong vênh và những thùng hắc ín đen đặc. Trong một góc lều rách nát dựng bằng tôn rỉ và vải bạt thủng lỗ chỗ, ánh lửa đỏ quạch từ một chiếc lò than nhỏ đang cháy leo lét, tỏa ra chút hơi ấm hiếm hoi giữa màn sương mù buốt giá.
Ngồi bên cạnh lò than là một lão già gầy gò, lưng còng rạp, khuôn mặt nhăn nheo như vỏ cây khô bám đầy muội sắt. Lão chỉ có một con mắt bên phải còn nhìn được, tròng mắt vàng đục lờ đờ; con mắt bên trái là một vết sẹo lõm sâu hoắm do tia lửa hàn kim loại bắn trúng. Bàn tay của lão thô ráp, chai sần với những ngón tay to bè biến dạng vì hàng chục năm cầm búa đập đá và nắn kim loại.
Trên chiếc đe sắt trước mặt lão đặt một vài chiếc kìm nhổ đinh rỉ sét và những hũ mỡ trăn mốc meo. Đây là một trong những kẻ kiếm sống ở rìa Phế Khảm bằng nghề vá sắt kiêm nắn xương cho những tên phu quặng bị sập hầm hay gãy tay chân vì đứt dây tời.
Lão già một mắt không ngẩng đầu lên khi nghe tiếng bước chân ướt sũng dẫm lên sàn gỗ. Lão vẫn thong thả dùng một chiếc que sắt cời đống than đỏ trong lò, cất giọng khàn đục như tiếng cưa gỗ:
"Nửa lạng cát quặng cho một lần nắn khớp. Gãy xương đùi hay vỡ sọ thì tự nhảy xuống sông mà chết, ở đây không có thuốc tiên."
Vân Nhược bước tới cách chiếc đe sắt năm bước chân, dừng lại. Tạ Vô Nhai đứng sừng sững sau lưng nàng như một bức tường đá vùi trong bóng tối, bàn tay phải khẽ chạm vào dải vải buộc giữ phôi then bên hông để kiểm tra lại nút thắt.
Vân Nhược không rút quặng, cũng chẳng có tiền đồng. Nàng dùng bàn tay trái rút thanh đoản đao huyền thiết giắt bên hông ra khỏi vỏ ba tấc.
Ánh thép đen nhánh, lạnh buốt và không phản chiếu lấy một tia lửa lò lóe lên trong chớp mắt. Lưỡi đao sắc lẹm lướt qua lớp vải gai bó nẹp trên cánh tay phải của nàng, cắt đứt từng vòng dây buộc mục nát một cách chuẩn xác mà không chạm vào da thịt dù chỉ nửa phân.
Hai thanh gỗ nẹp khô rơi cạch xuống sàn gỗ.
Cánh tay phải của Vân Nhược lộ ra dưới ánh lửa than le lói.
Lớp da thịt từ bả vai xuống đến cẳng tay nàng tái nhợt, teo tóp lại vì bị bó chặt quá lâu trong giá rét và ẩm ướt. Vết rách nơi bả vai đã đóng thành một mảng vảy xám cứng cộm nhờ cao dược của Hắc Lân, nhưng điều đáng ngại nằm ở khớp cổ tay và cẳng tay dưới của nàng.
Khớp cổ tay phải của nàng sưng to, gồ lên một mảng tím tái cứng ngắc. Dưới lớp da mỏng manh, trục xương cẳng tay có dấu hiệu biến dạng, các ngón tay cứng đờ không thể khép mở tự nhiên.
Lão già một mắt liếc qua thanh đoản đao huyền thiết trong tay nàng, ánh mắt đục ngầu khẽ giật một nhịp. Lão là kẻ rèn sắt cả đời, chỉ nhìn độ đen nhánh và cách lưỡi đao nuốt chửng ánh lửa là biết thứ này không phải vật phàm. Lão bỏ que sắt xuống, đưa bàn tay sần sùi nắm lấy những ngón tay phải cứng đờ của Vân Nhược.
Năm ngón tay của lão nắn dọc theo xương cẳng tay nàng, ấn mạnh vào khớp cổ tay đang sưng tấy.
Tiếng khớp xương cọ xát phát ra khô khốc rắc rắc.
Một cơn đau buốt xé ruột xé gan lập tức chạy dọc từ cổ tay lên tận đỉnh đầu Vân Nhược. Đôi lông mày thanh tú của nàng nhíu chặt lại, bờ môi mỏng cắn chặt đến mức rỉ máu tươi, nhưng nàng không phát ra một tiếng rên rỉ, thân hình mảnh dẻ đứng thẳng như một cây tùng trước gió.
Lão già buông tay ra, nhổ một bãi nước bọt vàng khè xuống sàn gỗ, lắc đầu:
"Bó nẹp kiểu chắp vá trong lúc chạy trốn giữa trời lạnh chứ gì? Vết rạn cũ gặp khí lạnh ngấm vào, lại bị chấn động nhiều lần. Khớp cổ tay có dấu hiệu lệch trục do bị cố định sai góc quá lâu."
Lão ngước con mắt đục ngầu lên nhìn Vân Nhược:
"Nếu cứ để cái nẹp này cố định thêm, đến lúc can xương cứng lại thì có muốn sửa cũng muộn. Khả năng xoay cổ tay và phát lực sẽ mất vĩnh viễn. Ngươi sẽ không bao giờ nhấc nổi cổ tay lên chứ đừng nói là cầm đao vung kiếm. Cánh tay này coi như phế."
Tạ Vô Nhai đứng phía sau siết chặt nắm tay phải, lồng ngực khẽ phập phồng một nhịp nặng nề.
Vân Nhược nhìn xuống cổ tay méo mó của mình, giọng nói vẫn phẳng lặng tựa như đang nghe chuyện của một kẻ xa lạ:
"Làm sao để sửa?"
"Muốn sửa?" Lão già cười gằn, tiếng cười như tiếng đá cọ vào nhau: "Chỉ có một cách: Tháo toàn bộ nẹp ra, dùng lực sống bẻ nắn lại cho khớp về vị trí cũ trước khi can xương dính chặt hẳn. Cực kỳ đau, đau đến chết đi sống lại. Nhưng quan trọng hơn là sau khi nắn lại, vùng đầm lầy ngập mặn này không có thứ gì giữ cho xương ngươi thẳng được đâu."
Lão gõ ngón tay chai sạn lên chiếc đe sắt:
"Gỗ ở đầm lầy ngậm nước muối sẽ mục và mềm ra, không chịu nổi lực ép. Muốn giữ cho cái trục xương này thẳng tắp trong suốt thời gian hồi phục, cần một phiến nẹp bằng đá phiến ngậm vôi khô — loại vật liệu cứng, hút ẩm và không bị biến dạng chỉ có ở những vách đá cổ trên núi cao."
Vân Nhược khẽ chớp mắt:
"Ở đâu có?"
Lão già một mắt đưa bàn tay bẩn thỉu chỉ về phía Tây — nơi những rặng núi đá vôi xám xịt đang ẩn hiện sau màn sương mù ngoài đầm lầy:
"Men theo rìa đầm lầy này đi về hướng Tây sẽ gặp chân rặng Vạn Cốt Lĩnh. Dân đãi quặng ngày xưa thỉnh thoảng có kẻ lên đó cạy đá phiến khô về nẹp xương. Nhưng..."
Lão ngừng lại một nhịp, con mắt vàng đục lóe lên một tia e dè:
"Nghe đồn trên đó quái đản lắm. Đừng có dại mà mò lên sâu trong núi."
Vân Nhược nhìn lão: "Quái đản thế nào?"
"Đám thợ già truyền tai nhau, sâu trong lòng núi Vạn Cốt Lĩnh từng có xưởng đúc ngầm bị sập từ thời nào chẳng ai rõ," lão già hạ thấp giọng, thì thào: "Đất đá vùi lấp cả một đám thợ dưới đó. Bây giờ trên núi toàn đá vôi cằn cỗi, không có nguồn nước, đêm đêm gió lùa qua các miệng hang nghe như tiếng búa nện đá rền rĩ dưới mồ. Người ta bảo kẻ nào mò lên đó tìm quặng đều dễ mất mạng. Thực hư thế nào chẳng ai dám chắc, nhưng chẳng mấy ai dại dột bén mảng tới."
Vân Nhược không hỏi thêm.
Nàng khẽ gật đầu, dùng tay trái nhặt hai thanh nẹp gỗ dưới sàn lên, áp tạm vào cánh tay phải rồi lấy dải vải gai buộc lỏng lại để giữ cố định tạm thời. Nàng không có gì để trả cho lão già ngoài một câu nói lạnh tanh:
"Đa tạ."
Nàng xoay người bước ra khỏi xưởng vá tàu. Tạ Vô Nhai lặng lẽ bước theo sau, bóng lưng cao lớn của hắn che khuất hoàn toàn tầm nhìn của lão già một mắt.
Rời khỏi xưởng vá tàu, hai người lẫn vào dòng người đông đúc trên một con đường nổi bằng sà lan ghép dẫn về khu chợ trung tâm của Phế Khảm.
Nơi đây nhộn nhịp một cách ngột ngạt. Những sạp hàng tạm bợ bày bán đủ loại phế liệu kim loại: Những mẩu xích sắt đứt đoạn, những mũi khoan rỉ sét nhặt được từ các giếng mỏ phía Bắc, những hũ dầu khoáng đen đặc và những bao muối thô ẩm ướt. Tiếng ngã giá đanh đục, tiếng chửi thề của đám phu khuân vác và mùi rượu quặng nồng nặc bốc lên khắp các ngóc ngách.
Vân Nhược kéo thấp vành mũ tơi rách mượn được từ xưởng tàu, bước chậm lại bên mép một quán nước dựng bằng tre nứa ven luồng lạch chính.
Nàng cần nghe ngóng tin tức về các tuyến thuyền xuôi Nam. Nhưng đúng lúc nàng vừa dừng bước dưới một mái hiên che đầy bồ hóng, ánh mắt nàng bỗng nhiên ngưng lại.
Cách đó mười trượng, trước một sạp thu mua kim loại quý đặt trên một chiếc sà lan hai tầng kiên cố.
Một bóng người trẻ tuổi đang đứng chắp tay sau lưng, đối diện với lão chủ sạp người U Minh mang kính lúp bằng đồng thau.
Người thanh niên đó vận trường bào màu xám tro, nhưng dưới gấu áo khoác ngoài rộng thùng thình lại để lộ ra một đường viền chỉ đỏ sắc sảo — quy chuẩn trang phục của Luyện Khí Đường thuộc Thiết Cương Môn. Khuôn mặt gã ta trắng trẻo, ánh mắt láo liên đầy cảnh giác, bên hông đeo một chiếc túi da thú dày cộp.
Người thanh niên khẽ mở miệng túi da, cẩn thận rút ra một mẩu kim loại nhỏ bằng nửa bàn tay, đặt lên mặt bàn nỉ đỏ của lão chủ sạp.
Mẩu kim loại đó đen nhánh, góc cạnh sắc lẹm, trên bề mặt phủ một lớp xỉ quặng xám xịt nhưng các đường vân đúc lại mang hình chữ thập đan xen tinh xảo — chính là một mẩu kim loại lạ thu nhặt được từ đống đổ nát ở khu vực Lò Cổ mà Khương Du đã bí mật giữ lại sau vụ sụp đổ giếng số ba.
"Xem kỹ thứ này," người thanh niên hạ thấp giọng, nhưng âm thanh vẫn lọt qua khe hở của tiếng ồn ào xung quanh: "Quy chuẩn đúc này... Ở vùng đầm lầy phương Nam các ngươi có xưởng nào luyện ra được không?"
Lão chủ sạp cầm kính lúp đồng thau lên, cẩn thận soi từng đường rãnh trên mẩu kim loại, ngón tay run run:
"Thép này... Không phải thép luyện bằng than đá thông thường. Độ cứng và thớ kim loại này giống như được tôi luyện dưới áp suất địa ngầm cực lớn. Lạ thật, hoa văn này nhìn rất giống những mảnh phế liệu cổ mà dân đãi quặng thỉnh thoảng nhặt được từ chân núi phía Tây..."
"Phía Tây?" Người thanh niên nheo mắt, gặng hỏi: "Vạn Cốt Lĩnh?"
"Đúng vậy," lão chủ sạp gật đầu: "Nhưng quặng ở đó nghe đâu đã bỏ hoang từ hàng trăm năm trước rồi. Công tử lấy thứ này từ đâu ra?"
Người thanh niên không trả lời. Gã nhanh chóng giật lại mẩu kim loại, nhét vào túi da, ánh mắt quét nhanh qua đám đông xung quanh rồi xoay người rảo bước về phía một chiếc thuyền nan có mui che kín đang đợi sẵn bên mép bến.
Vân Nhược nép sát nửa thân mình vào cột tre của quán nước, ánh mắt lạnh lẽo thu trọn từng cử động của kẻ vừa rời đi.
Bàn tay phải của Tạ Vô Nhai khẽ siết lại dưới lớp áo rách, hắn cất giọng trầm thấp:
"Người của Khương Du."
"Hắn không còn chỉ muốn ngồi yên ở cái ghế Chưởng Khố," Vân Nhược khẽ nhếch khóe môi, thanh âm phẳng lặng như băng tuyết: "Hắn đang tìm thứ có thể khiến những kẻ khác trong Thiết Cương Môn phải dè chừng. Con cáo già đó đã bắt đầu lần ra manh mối của bàn cờ phương Nam."
Nàng quay người lại, nhìn về phía những chiếc sà lan chở khách lớn đang neo đậu ở bến chính phía Nam — nơi những lá cờ buôn của U Minh Thương Minh đang bay phần phật trong gió sớm. Rồi nàng nhìn sang hướng Tây, nơi màn sương muối dày đặc đang bao phủ lấy bóng dáng mờ mịt của rặng núi đá vôi Vạn Cốt Lĩnh.
Đoạn xương đen sau lưng nàng khẽ rung lên một nhịp trầm đục, đầu nhọn lệch hẳn về phía rặng núi đá hoang phế kia.
Cùng lúc đó, phôi then bát giác buộc bên hông Tạ Vô Nhai lại phát ra một nhịp rung cơ học quen thuộc, kéo chúc xuống dòng nước lớn đang cuộn chảy về phương Nam.
Hai phương hướng.
Hai sự lựa chọn nghiệt ngã đang mở ra ngay giữa lòng tiền đồn Phế Khảm — nơi mỗi bước đi sai lầm đều sẽ phải trả giá bằng máu và sự cầm cố vĩnh viễn của sinh mạng.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.