Chương 43: Tàn Ấn Kim Đan
Trường Thiên Tiên Hiệp
Mục lục
48 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 48/48 chương
Ở tập trước…
Trước khi bước vào chuyện hôm nay, Huyền Thiên vừa khép lại một tuần Bách Pháp Đồng Tu. Hai mươi đệ tử được đưa khỏi lối luyện riêng lẻ, từ những pháp môn mới còn vụng về đi qua từng ngày sửa thế, song luyện rồi hợp thành bốn nhóm năm người. Có người phải học chậm lại, có người phải học giữ nhịp, cũng có người lần đầu hiểu rằng một khoảng trống trên sân không còn là việc của riêng kẻ vừa sơ suất.
Ở buổi diễn luyện cuối, bốn nhóm cùng bước vào trận ấn. Kiếm thế, chỉ pháp và những pháp môn hỗ trợ không còn tách rời; linh lực được nối đúng lúc, chỗ hụt có người bù, thế công chỉ mở khi người bên cạnh đã vào vị trí. Khi khôi lỗi trung tâm ngừng chuyển, điều còn lại sau một tuần không phải một chiêu thức rực rỡ nhất, mà là nhịp phối hợp đã bắt đầu hình thành giữa những người vốn quen tự mình gánh lấy phần việc trước mặt. Tối xuống, sân luyện dần tắt linh quang, còn đám đệ tử rời đi với một thói quen mới: biết nhìn cả người bên cạnh, không chỉ nhìn mục tiêu trước mắt.
HỒI 1: BA KHÍ TỨC TRONG ĐÊM
Bảy ngày trước Bách Pháp Đồng Tu - đêm đoàn Thanh Hà vừa trở về Huyền Thiên Tông.
Cuộc họp hậu chiến vừa tan chưa lâu. Trên những dãy điện men sườn núi, đèn đã tắt quá nửa; mây đêm lướt qua mái ngói lưu ly, kéo bóng tùng thành những vệt dài trên thềm đá. Câu nói cuối cùng của Tạ trưởng lão khi rời nghị sự đường vẫn như còn vương trong gian điện trống:
“Sáng mai, mở diễn võ trường. Bách Viện đổi giáo trình.”
Khi ấy không ai phản đối. Sau Thanh Hà, ai cũng thấy những lỗ hổng đã lộ ra quá rõ.
Nhưng tới nửa đêm, cả việc “sáng mai” lẫn chuyện diễn võ trường đều bị gác lại.
Mục sư phụ, Mục Thanh Nghi, đang đứng dưới mái hiên phía tây thì ngẩng đầu. Gần như cùng một lúc, Tạ trưởng lão Tạ Huyền Dương từ trong điện bước ra. Hai người không cần hỏi nhau đã nhận ra điều bất thường.
Ngoài tầng hộ sơn đại trận, rất xa trong màn đêm, có ba luồng khí tức Kim Đan đang tiến về phía Huyền Thiên.
Không phải một luồng.
Là ba.
Khoảng cách giữa ba khí tức không đều. Chúng không quấn vào nhau như người đồng hành ngự không mà đi, cũng không cố giấu mình trong cùng một pháp môn che lấp. Chỉ là ba sức ép cùng xuất hiện trên một tuyến núi, trước sau cách nhau một đoạn, đều hướng về phía cổng ngoài.
Mục sư phụ nhìn về phía dãy nhà nơi đệ tử vừa trở về đang nghỉ ngơi. Không ít người còn mang thương sau chuyến Thanh Hà.
Tạ trưởng lão nói: “Ta đi.”
Mục sư phụ đáp: “Ta cùng đi.”
Không chuông cảnh giới. Không lệnh tập hợp. Không đệ tử nào bị gọi dậy.
Hai bóng người rời khỏi sơn môn, lướt qua những triền đá tối màu ngoài đại trận. Gió núi ban đêm mang hơi lạnh quét dọc tà áo. Tạ trưởng lão dừng trên một mỏm đá cao hơn đường núi, Mục sư phụ đứng chếch nửa bước, vừa đủ để nhìn rõ con đường phía trước mà không tạo thế vây.
Ba khí tức Kim Đan cũng chậm lại.
Người đến đầu tiên dừng ở khoảng cách đủ xa. Một lát sau, hai người còn lại lần lượt hiện ra trên cùng con đường, nhưng mỗi người chiếm một vị trí riêng. Không ai tiến gần ai thêm. Chỉ riêng khoảng cách ấy đã nói đủ rằng họ chưa phải đồng hành thân thuộc.
Tạ trưởng lão không đưa tay lên binh khí.
“Ba vị đêm khuya hướng thẳng Huyền Thiên,” Tạ trưởng lão nói, “chắc không phải chỉ để ngắm núi.”
Một trong ba người đáp: “Nếu muốn động thủ, ta đã không để khí tức lộ từ xa.”
Tạ trưởng lão đáp: “Lộ khí tức chưa chắc là thiện ý.”
Người vừa lên tiếng nói: “Cũng chưa chắc là ác ý.”
Không khí giữa sườn núi căng như một sợi dây vừa kéo thẳng, nhưng không ai giật nó đứt.
Mục sư phụ lên tiếng: “Các vị từ Thanh Hà tới?”
Ba người im lặng một nhịp.
Người đứng gần nhất gật đầu.
Mục sư phụ hỏi: “Vậy các vị đã thấy dấu vết người Huyền Thiên từng ở đó?”
Người đứng gần nhất đáp: “Đã thấy.”
Mục sư phụ hỏi tiếp: “Cũng thấy chiến trường?”
Người đó gật đầu: “Đã thấy.”
Mục sư phụ hỏi tiếp: “Vậy vì sao còn tới đây?”
Lần này, người thứ hai đáp: “Vì có một người chết.”
Tạ trưởng lão nhìn sang.
Người đó không vòng vo: “Kim Đan đã chết ở Thanh Hà. Ta từng quen.”
Ngay sau đó, người thứ nhất nói: “Ta cũng từng quen.”
Người còn lại chậm hơn nửa nhịp: “Ta cũng vậy.”
Gió xuyên qua khe đá, cuốn bụi khô lướt ngang giữa năm người.
Tạ trưởng lão hỏi: “Ba vị cùng môn?”
Một người đáp: “Không.”
Tạ trưởng lão hỏi tiếp: “Cùng phe?”
Vẫn là câu trả lời ấy: “Không.”
“Trước đây quen nhau?” Tạ trưởng lão hỏi.
Ba người nhìn nhau. Cái nhìn ngắn và xa lạ.
“Không.”
Một sự căng thẳng khác thay thế sự căng thẳng ban đầu. Không phải địch ý, mà là nghi vấn.
Mục sư phụ hỏi: “Vậy tại sao cả ba cùng xuất hiện ở Thanh Hà?”
Người từng quen người chết sớm nhất đáp trước. Mỗi người, hóa ra, đều giữ một tín vật liên lạc riêng từ thời giao tình của mình. Không phải cùng một vật, cũng không phải cùng một mối liên hệ. Khi người kia chết, ba đường liên hệ ấy đều tắt. Ba người độc lập lần theo dấu vết, rồi chỉ đến Thanh Hà mới phát hiện còn có hai Kim Đan khác cũng đang tìm cùng một người.
Họ không biết Huyền Thiên có phải bên trực tiếp giết người hay không.
Họ chỉ biết người chết đã xuất hiện trong một cuộc giao tranh, Huyền Thiên từng có mặt, và sau đó người kia không còn sống.
Tạ trưởng lão hỏi: “Không có chứng cứ, ba vị vẫn tới?”
Người thứ ba nói: “Không có chứng cứ nên mới tới hỏi.”
Câu trả lời khiến khoảng không im đi.
Tu tới Kim Đan không có nghĩa gặp người quen chết là lập tức đánh lên sơn môn của một đại tông. Người sống đủ lâu để bước qua vô số cửa ải sinh tử càng hiểu giá trị của chứng cứ. Một trận đánh với Huyền Thiên, một khi bắt đầu, sẽ không còn là chuyện vài câu tức giận có thể thu lại.
Mục sư phụ nói: “Người đó đã tham chiến ở Thanh Hà.”
Người đối diện đáp: “Ta biết.”
Mục sư phụ nói tiếp: “Cái chết xảy ra trong biến cố.”
Người đó gật đầu: “Ta cũng biết.”
Mục sư phụ hỏi: “Vậy các vị muốn hỏi điều gì?”
Người từng quen người chết từ giai đoạn sớm nhất trầm mặc hồi lâu rồi nói: “Ta muốn biết vì sao hắn lại đi đến bước ấy.”
Mục sư phụ không đáp ngay.
Người kia tiếp: “Khi ta quen, hắn rất thận trọng. Tiếc mạng. Biết tiến biết lui. Gặp thế lực lớn hơn mà không bị dồn tới đường cùng thì tuyệt đối không chủ động lao đầu vào.”
Người thứ hai khẽ quay sang, dường như lời ấy khác hẳn người trong ký ức của mình.
“Ta quen muộn hơn.” Người thứ hai nói. “Nhưng nghe không giống điều ta biết về hắn. Hắn là một người đa nghi. Dễ nổi nóng. Một câu vô ý cũng có thể bị hiểu thành thăm dò, một lần chậm hồi đáp cũng thành khinh nhục. Có chuyện vốn mơ hồ, hắn luôn chọn cách hiểu xấu nhất.”
Người thứ ba nói: “Có lẽ ta biết hắn muộn hơn các vị.”
Mục sư phụ nhìn sang.
Người thứ ba nói: “Hắn thường nói có kẻ theo dõi mình. Có kẻ nhắm vào mình. Có lần ta nghe nhắc tới Huyền Thiên.”
Tạ trưởng lão hỏi: “Có chứng cứ không?”
Người thứ ba đáp: “Không.”
Tạ trưởng lão hỏi tiếp: “Có nói ai theo dõi?”
Người thứ ba lại đáp: “Không.”
“Thế vì sao nhắc Huyền Thiên?” Tạ trưởng lão hỏi.
Người thứ ba lắc đầu: “Ta cũng không rõ.”
Tạ trưởng lão không hỏi thêm.
Ba lời kể đặt cạnh nhau không ăn khớp, nhưng cũng không đủ để kết luận bất cứ điều gì. Một người có thể thay đổi qua năm tháng. Một tu sĩ sống giữa tranh đoạt càng có thể vì vô số chuyện mà trở nên cảnh giác, nóng nảy hoặc cực đoan. Chưa có gì chứng minh ba đoạn ký ức kia thuộc về một nguyên nhân duy nhất.
Mục sư phụ chỉ nói: “Những lời này, ta sẽ nhớ.”
Người đầu tiên hỏi: “Huyền Thiên có thể cho chúng ta một câu trả lời về cái chết không?”
“Chúng ta có thể nói những gì đã biết,” Mục sư phụ đáp, “nhưng không thể bịa ra phần không biết.”
Tạ trưởng lão tiếp lời: “Người đó đã bước vào chiến trường. Huyền Thiên không có chứng cứ cho thấy ba vị liên quan tới việc ấy, cũng như ba vị không có chứng cứ cho thấy Huyền Thiên vô cớ giết người. Nếu tới để xác minh, vậy xác minh đến đây là đủ.”
Không ai phản bác. Sợi dây căng giữa sườn núi cuối cùng cũng chùng xuống mà không một ai xuất thủ.
Sau một hồi trao đổi ngắn nữa, ba vị Kim Đan rời đi theo ba hướng. Người thứ nhất đi dọc sườn tây, người thứ hai men theo đường núi xuống phía nam, người cuối cùng đợi thêm một lát rồi mới rời khỏi tầm cảm ứng của hai người Huyền Thiên. Họ đến riêng rẽ, hỏi riêng phần mình biết, rồi cũng rời đi như thế.
Trên đường trở về, rừng núi đã yên hơn trước. Đến gần sơn môn, Mục sư phụ bỗng hỏi:
“Sáng mai thật sự mở diễn võ trường?”
Tạ trưởng lão dừng bước.
Mục sư phụ nhìn về những dãy viện đang chìm trong bóng tối: “Đám trẻ vừa từ Thanh Hà về. Có người còn mang thương, có người linh lực chưa hồi. Nghỉ một đêm rồi kéo ra đổi giáo trình, có gấp quá không?”
Tạ trưởng lão im lặng.
Trong nghị sự đường, điều nhìn thấy rõ nhất là lỗ hổng chiến thuật. Khi đó, Tạ trưởng lão chỉ nghĩ đến việc không thể để những lỗ hổng ấy tồn tại thêm một ngày. Nhưng đêm nay, sau khi đi qua những mái viện tắt đèn, chuyện đơn giản hơn lại hiện ra trước mắt: người cũng cần thời gian để thở.
Một lúc sau, Tạ trưởng lão nói: “Bảy ngày.”
Mục sư phụ nhìn sang.
“Người tham chiến nghỉ cho đủ. Người không tham chiến vẫn theo lệ cũ. Bách Viện dùng bảy ngày ấy chuẩn bị lại giáo trình.” Tạ trưởng lão khẽ thở ra. “Chủ trương không đổi. Chỉ đổi ngày.”
Mục sư phụ gật đầu.
Không cần thêm một cuộc nghị sự nào. Chủ trương vẫn như cũ; chỉ có câu “sáng mai” được lùi lại thành bảy ngày sau.
Bảy ngày sau, diễn võ trường mở cửa.
Bách Pháp Đồng Tu bắt đầu.
Và rồi, khi chương trình ấy đã kết thúc, một việc bị bỏ lại từ Thanh Hà mới được đặt trở lại trên bàn.
HỒI 2: DẤU VẾT KHÔNG THUỘC VỀ NGƯỜI CHẾT
Hiện tại - sau Bách Pháp Đồng Tu.
Buổi sáng, một gian kiểm nghiệm kín ở phía sau nội viện được mở lại.
Di thể và vật chứng của Kim Đan vô danh từ Thanh Hà đã được bảo quản qua nhiều tầng phong cấm. Không ai trong phòng xem đây là một cái xác đơn thuần. Một Kim Đan từng tu luyện Ma Cốt Huyết Thân, từng chịu thương tích trong chiến trường, từng va chạm với lực lượng của Ngũ Chuyển — chỉ riêng ba tầng dấu vết ấy đã đủ khiến bất kỳ kết luận vội vàng nào trở nên nguy hiểm.
Mục sư phụ đứng bên bàn đá dài.
Tạ trưởng lão đặt một khối ngọc ghi chép sang bên, nói: “Làm lại từ đầu.”
“Không phải làm lại kết quả Thanh Hà,” Mục sư phụ nhắc.
Tạ trưởng lão đáp: “Ta biết. Chỉ rà lại thứ chưa giải thích được.”
Hai người bắt đầu từ những phần đã có căn cứ.
Dấu vết Ma Cốt Huyết Thân có quy luật riêng. Thương tích chiến trường có đường phá hủy riêng. Những gì Ngũ Chuyển để lại cũng không phải thứ có thể nhầm lẫn nếu kiên nhẫn bóc từng lớp.
Đến khi ba phần ấy được đặt đúng chỗ, vẫn còn một vùng rất nhỏ không chịu khớp vào bất kỳ nguồn nào.
Nó không giống vết thương.
Cũng không giống tàn dư của công pháp người chết tự tu.
Những đường linh lực mảnh đến gần như vô hình nằm sâu bên trong, lẩn giữa các dấu cũ, không bộc lộ thành một hình thức hoàn chỉnh. Chúng giống những nét mực từng bị phủ qua nhiều lần, chỉ khi nhìn nghiêng dưới một góc nhất định mới nhận ra còn có thứ khác ở phía dưới.
Tạ trưởng lão nhìn rất lâu rồi nói: “Có cấu trúc ngoại lai.”
Mục sư phụ không sửa cách gọi ấy.
Dấu vết trước mắt chưa đủ để gọi tên hay lần nguồn; nó chỉ cho thấy một thứ nằm ngoài ba nguyên nhân đã xác nhận.
Nửa canh giờ sau, ba đệ tử được gọi tới.
Người đầu tiên là Cù Tĩnh Y của Dược Cốc. Tĩnh Y đã trực tiếp tham gia Bách Pháp Đồng Tu, thần thức ổn định, lại có khả năng nhận biết những biến đổi rất nhỏ trong kinh mạch và thần hồn. Người thứ hai là Hàn Dạ Minh của Trận Viện, sở trường theo dõi quy luật vận hành của linh lực. Người cuối cùng là Hứa Vân Thâm của Bách Công Viện, quen với việc giữ vật chứng và dụng cụ ổn định khi một cấu trúc quá mong manh để chịu sai lệch thao tác.
Ba người vào phòng hành lễ. Tạ trưởng lão không nói dài.
Tạ trưởng lão nói: “Các ngươi chỉ làm phần được giao. Không đoán nguồn. Không suy người. Không tự nối chuyện ngoài vật chứng.”
Dạ Minh nhìn thoáng qua bàn đá, rồi chắp tay: “Bẩm trưởng lão, đệ tử chỉ xác định cấu trúc?”
Tạ trưởng lão gật đầu: “Đúng.”
Tĩnh Y chắp tay hỏi: “Nếu có phần liên quan tới thần hồn, đệ tử chỉ ghi điều thật sự thấy?”
“Đúng.” Tạ trưởng lão nói. “Không suy rộng.”
Vân Thâm đặt hộp dụng cụ xuống, không mở ngay: “Nếu vật chứng biến đổi, đệ tử lập tức dừng?”
Tạ trưởng lão đáp: “Dừng trước khi chạm ngưỡng không thể lui.”
Mục sư phụ bổ sung: “Không ai cần chứng minh mình giỏi hơn người khác. Việc hôm nay không phải khảo hạch.”
Ba người cùng đáp: “Vâng.”
Tĩnh Y bắt đầu từ phần gần kinh mạch.
Thần thức chỉ lướt ở biên, không xâm nhập sâu. Mỗi lần bắt được một đoạn dấu vết, Tĩnh Y đều đối chiếu với vùng thương tổn đã biết trước rồi mới loại trừ. Có đoạn tưởng là bất thường nhưng thực ra chỉ là hậu quả của va chạm cũ; có chỗ nhìn như một nét ấn, cuối cùng lại ăn khớp hoàn toàn với biến hóa của Ma Cốt Huyết Thân.
Dạ Minh ngồi phía đối diện, dùng những thẻ trận nhỏ xếp quanh vùng quan sát. Chỉ vài điểm linh quang yếu đến mức người ngoài có thể bỏ qua hiện lên trên mặt đá, nối thành một trận đồ mảnh như tơ.
“Chỗ này lặp,” Dạ Minh nói.
Tĩnh Y ngẩng lên: “Lặp thế nào?”
Dạ Minh đáp: “Không theo thương thế.”
Dạ Minh dịch một thẻ trận sang nửa tấc. Ba điểm sáng đổi góc, một đường linh lực vốn tưởng ngẫu nhiên lập tức hiện thành hai nhịp giống nhau.
Vân Thâm đưa một dụng cụ cố định vào vị trí, khóa nhẹ cạnh bàn đá để vật chứng không dịch chuyển khi linh lực khảo sát thay đổi. Mọi động tác đều chậm, không dư một phần lực.
Mục sư phụ hỏi: “Có thể do Ngũ Chuyển?”
Dạ Minh lắc đầu: “Không giống.”
Tĩnh Y cũng nói: “Phần này không đi theo đường tổn thương.”
Tạ trưởng lão đứng phía sau, không vội kết luận. “Bỏ lại.”
Không ai hỏi “bỏ lại” nghĩa là gì.
Họ chỉ đánh dấu phần chưa giải thích được, rồi tiếp tục loại những gì đã có căn nguyên.
Đến gần giữa trưa, thứ còn lại đã nhỏ hơn lúc đầu rất nhiều.
Nhưng càng bóc sạch dấu vết của Ma Cốt Huyết Thân, thương tích ở Thanh Hà và ảnh hưởng của Ngũ Chuyển, phần còn sót càng hiện rõ. Nó cũng không giống linh lực rời rạc do Kim Đan tan rã sau khi chết: những đường mảnh ấy có quy luật, hơn nữa từng được giấu rất sâu.
Tạ trưởng lão nói: “Dừng.”
Tĩnh Y thu thần thức trước. Dạ Minh dập những điểm linh quang trên thẻ trận. Vân Thâm lập tức gia cố lại phần vật chứng vừa mở.
Không ai cố tranh thêm nửa khắc; buổi kiểm nghiệm tạm ngắt.
Ngoài gian phòng, mặt trời đã lên cao. Cả nhóm nghỉ lại ngay trong khu nội viện, yên lặng điều tức sau nhiều giờ giữ thần thức và linh lực ở độ tinh tế cực cao. Đến lúc này, thứ cần nhất là để nhịp thở cùng linh lực trở lại ổn định trước khi chạm vào vật chứng lần nữa.
Mục sư phụ dựa dưới bóng hiên, mắt nhắm hờ.
Tạ trưởng lão vẫn cầm một mảnh ngọc ghi chép, nhưng rất lâu không khắc thêm chữ.
Tĩnh Y ngồi yên điều tức. Dạ Minh xoa nhẹ đầu ngón tay đã lạnh vì giữ linh lực quá đều. Vân Thâm kiểm lại dụng cụ chỉ bằng mắt, không chạm vào phong cấm.
Không ai nhắc tới nguồn gốc của cấu trúc kia. Điều họ có trong tay còn quá ít, mà điều chưa biết thì không thể lấy suy đoán lấp vào.
HỒI 3: ẤN VĂN TỰ RỤNG
Đầu giờ chiều, cửa gian kiểm nghiệm đóng lại lần nữa.
Lần này, Tạ trưởng lão trực tiếp tiếp nhận phần khảo sát sâu.
Ba đệ tử vẫn ở đó, nhưng vị trí đã thay đổi. Tĩnh Y giữ biên thần hồn để phân biệt biến động do thao tác với dấu vết cũ. Dạ Minh duy trì trận đồ ghi lại những đường linh lực đã xác nhận. Vân Thâm khóa ổn định vật chứng tại ba điểm, bảo đảm bất kỳ thay đổi nào cũng không đến từ việc dịch chuyển.
Mục sư phụ đứng gần Tạ trưởng lão nhất.
“Có chắc muốn đi sâu hơn?” Mục sư phụ hỏi.
Tạ trưởng lão đáp: “Chúng ta đã loại đủ phần nhiễu.”
Mục sư phụ nói: “Phần còn lại biết che mình.”
“Cho nên mới phải biết nó che cái gì.” Tạ trưởng lão nói.
Tạ trưởng lão đặt hai ngón tay lên mép phong cấm.
Linh lực thâm nhập rất chậm.
Không phải kiểu cưỡng ép xé mở một cánh cửa, mà giống như men theo đường chỉ ẩn trong một bức thêu cổ. Mỗi khi gặp một nút giao, Tạ trưởng lão dừng lại, để Dạ Minh xác nhận quy luật, để Tĩnh Y so sánh phản ứng thần hồn, rồi mới tiến thêm.
Ban đầu, không có gì xảy ra.
Sau đó, những đường linh lực lạ bắt đầu nối nhau.
Một nét.
Hai nét.
Rồi một vòng kín méo mó hiện lên trong cảm nhận của cả nhóm.
Tĩnh Y khẽ nói: “Nó từng bám vào phần rất sâu.”
Mục sư phụ hỏi: “Còn hoạt động không?”
Tĩnh Y đáp: “Không như một vật sống.”
Dạ Minh nhìn trận đồ linh quang trước mặt: “Nhưng cấu trúc không phải dấu tích ngẫu nhiên. Các nút đều hướng vào cùng một kiểu phản hồi.”
Tạ trưởng lão hỏi: “Phản hồi gì?”
Dạ Minh không đáp ngay. Một lúc sau mới nói: “Nhận biết nguy cơ.”
Tĩnh Y nhíu mày.
Tạ trưởng lão lại tiến thêm một tầng.
Cấu trúc lạ mở ra không phải bằng hình ảnh, cũng không phải bằng tiếng nói. Nó không chứa một ký ức hoàn chỉnh nào để người khác nhìn thấy. Nó càng không cho họ biết ai đã đặt nó vào.
Nhưng quy luật ảnh hưởng dần hiện rõ.
Nó bám vào cách người mang cảm nhận mối đe dọa.
Một ý niệm mơ hồ có thể bị kéo nghiêng về phía nguy hiểm.
Một hành động khó hiểu của người khác có thể bị diễn giải thành ác ý.
Một cảm xúc tiêu cực vốn đã tồn tại có thể được nuôi lớn, khiến nghi ngờ trở nên nặng hơn, khiến tức giận dễ bén lửa hơn.
Mục sư phụ nhìn những đường sáng nhạt trên bàn đá, rất lâu không nói.
Tạ trưởng lão hỏi: “Có phải khống chế trực tiếp không?”
Dạ Minh lắc đầu trước.
Tĩnh Y cũng nói: “Không thấy dấu cưỡng ép từng hành động.”
Tạ trưởng lão hỏi: “Thay ký ức?”
Tĩnh Y đáp: “Đệ tử không đủ căn cứ để nói như vậy.”
Tạ trưởng lão nhìn sang Dạ Minh: “Có đường nhận lệnh?”
Dạ Minh lắc đầu: “Đệ tử không thấy.”
Tạ trưởng lão im lặng.
Mục sư phụ nói khẽ: “Vậy người mang vẫn tự quyết định.”
Tĩnh Y khẽ đáp: “Vâng.”
Mục sư phụ nhìn những đường ấn văn: “Nhưng cái cân trong lòng đã bị đẩy lệch.”
Không ai phản bác câu ấy. Đó cũng chính là điểm đáng sợ nhất.
Nếu một kẻ bị điều khiển như con rối, người ngoài còn có thể nhận ra sự đứt gãy. Nhưng nếu ký ức vẫn là ký ức của chính mình, lựa chọn vẫn do chính mình đưa ra, chỉ có cách nhìn nguy cơ ngày một méo đi, người mang có thể không hề biết có thứ gì đang cùng mình suy nghĩ.
Tạ trưởng lão nhìn cấu trúc đang dần lộ rõ, rồi khẽ nói: “Ma Ấn.”
Cái tên ấy rơi xuống trong gian phòng kín.
Cái tên ấy chỉ đến sau khi những lớp che phủ đã bị bóc tới tận đây.
Những gì hiện ra đã đủ cho họ hiểu bản chất của thứ ấn ký ngoại lai ấy: nó cắm sâu vào thần hồn, không cướp quyền tự quyết, nhưng âm thầm bóp lệch nhận thức và nuôi lớn phần ác niệm vốn có.
Tĩnh Y hỏi: “Bẩm trưởng lão, nếu đã ở đó lâu như vậy, vì sao trước đây không phát hiện?”
Tạ trưởng lão đáp: “Vì nó không đứng riêng để cho người khác nhìn.”
Mục sư phụ nói: “Nó sống giữa những thứ vốn đã thuộc về người mang.”
Một cơn lạnh rất nhẹ chạy dọc gian phòng.
Không ai nói tiếp về người đã chết.
Càng không ai vội dùng hai chữ Ma Ấn để xóa đi những gì người kia từng làm. Một người vẫn có ký ức, vẫn có tính cách, vẫn có quyền lựa chọn. Ngoại lực có thể bẻ lệch cách nhìn và làm ác niệm lớn hơn, nhưng điều đó không tự biến mọi hành vi đã xảy ra thành vô tội.
Tạ trưởng lão đổi tay.
Tạ trưởng lão nói: “Ta xem thêm một tầng.”
Mục sư phụ nhắc: “Chậm.”
Tạ trưởng lão khẽ gật: “Ừ.”
Linh lực vừa chạm tới nút sâu nhất mà họ từng mở được, Dạ Minh đột ngột ngẩng đầu: “Khoan.”
Cùng lúc ấy, một đường sáng trên trận đồ biến mất.
Không phải tắt.
Là đứt.
Vân Thâm lập tức siết phong cấm giữ vật chứng. Tĩnh Y thu thần thức về nửa bước.
Tạ trưởng lão không tăng lực.
Nhưng đã muộn.
Nét ấn thứ hai rụng khỏi cấu trúc.
Rồi nét thứ ba.
Sự tự hủy diễn ra lặng lẽ, không tiếng nổ, không dị tượng. Những đường ấn văn mất liên kết từng tầng một, lạnh lẽo như một phong mật thư bị lửa ăn từ bên trong.
“Rút!” Mục sư phụ nói.
Tạ trưởng lão thu linh lực ngay.
Thế nhưng cơ chế kia không dừng.
Dạ Minh nhìn các điểm trận liên tiếp tối đi: “Linh lực đang chạy ngược qua chính các nút.”
Tĩnh Y nói: “Nó tự triệt tiêu.”
Vân Thâm đã đặt sẵn dụng cụ giữ phần biên, nhưng không thể cứu cả cấu trúc. Mỗi tầng bị xóa đều ưu tiên cắt đứt những đường có khả năng nối sâu hơn. Phần có thể dùng để truy ngược nguồn biến mất trước.
Tạ trưởng lão không cưỡng ép.
Cưỡng ép lúc này chỉ khiến phần còn lại tan nhanh hơn.
Tạ trưởng lão nói: “Giữ biên ngoài.”
Dạ Minh lập tức đổi cách bố trí, không còn cố theo dõi trung tâm mà chỉ khóa những đường chưa đứt.
Tạ trưởng lão nói: “Tĩnh Y, đừng chạm vào lõi.”
Tĩnh Y lập tức đáp: “Vâng.”
Tạ trưởng lão gọi: “Vân Thâm.”
Vân Thâm đáp: “Đệ tử đang giữ.”
Trong khoảnh khắc ấy, sức mạnh lớn không có ích bằng một bàn tay đủ vững. Ba người chỉ giữ đúng phần việc trước mắt, không để một tia linh lực thừa chạm vào thứ đang tự hủy.
Một tầng nữa biến mất.
Rồi tốc độ chậm lại.
Cuối cùng, trên bàn đá chỉ còn một đoạn cấu trúc rất nhỏ.
Tàn tích ấy đứt gãy, không còn đủ để dựng lại toàn bộ Ma Ấn, nhưng ít nhất vẫn chưa tan hết.
Vân Thâm giữ nguyên vị trí dụng cụ, hỏi: “Bẩm trưởng lão, phong lại?”
Tạ trưởng lão nhìn mảnh tàn cấu trúc hồi lâu rồi nói: “Phong.”
Mục sư phụ đứng bên cạnh, mắt không rời dấu vết còn sót.
Phần còn sót không mang tên người, không có ký hiệu tông phái, cũng chẳng lưu lại phương vị nào đủ để lần ngược. Nó chỉ xác nhận được một chuyện: Ma Ấn từng tồn tại, và khi bị đọc tới tầng sâu, nó biết cách tự xóa mình.
Tạ trưởng lão đặt thêm một lớp cấm chế lên phần còn lại.
Tạ trưởng lão nói: “Đủ rồi.”
Không ai hỏi thêm. Mảnh còn lại đã đủ để xác nhận thứ ấn ấy từng tồn tại và cơ chế tự xóa đã khởi lên khi bị soi tới tầng sâu; còn con đường lần ngược về nguồn đã đứt.
HỒI 4: BA LỜI KỂ, MỘT VẾT LỆCH
Đến cuối buổi chiều, Tĩnh Y, Dạ Minh và Vân Thâm tạm rời khỏi gian trong.
Phần đối chiếu tiếp theo không cần thêm người.
Mục sư phụ ngồi xuống bên bàn đá. Tạ trưởng lão mở lại ngọc ghi chép từ đêm hậu Thanh Hà. Những câu nói tưởng đã nằm yên suốt bảy ngày, giờ được đặt cạnh tàn ấn vừa giữ lại.
Tạ trưởng lão đọc chậm:
“Giai đoạn sớm: thận trọng, tiếc mạng, biết tiến lui.”
Mục sư phụ nói: “Đó là ký ức của một người.”
Tạ trưởng lão đọc tiếp: “Giai đoạn giữa: đa nghi hơn, dễ nổi nóng, thường hiểu chuyện mơ hồ theo hướng ác ý.”
Mục sư phụ đáp: “Cũng chỉ là ký ức của một người.”
“Giai đoạn gần Thanh Hà: tin có kẻ theo dõi, nhắm vào mình, từng nhắc Huyền Thiên nhưng không đưa ra chứng cứ.” Tạ trưởng lão khép lời.
Tạ trưởng lão dừng lại. Mục sư phụ cũng không vội nói.
Nếu đặt riêng từng lời kể, mỗi lời đều có thể bị giải thích bằng đời người, bằng thù hận, bằng tổn thương, bằng những năm tháng tranh đoạt. Nhưng sau khi Ma Ấn được xác nhận, ba lời kể bỗng có thể xếp lên cùng một đường thời gian.
Từ thận trọng.
Sang đa nghi.
Rồi tới chỗ tin chắc vào nguy cơ dù không có chứng cứ.
Tạ trưởng lão nói: “Tương thích.”
Mục sư phụ nhìn sang.
“Chỉ tương thích,” Tạ trưởng lão nhắc lại. “Không phải chứng minh.”
Mục sư phụ gật đầu: “Không biết ấn được gieo khi nào. Không biết mọi thay đổi có phải do nó hay không.”
Tạ trưởng lão nói: “Cũng không biết có ai từng ra lệnh cho người đó tới Huyền Thiên.”
Mục sư phụ tiếp: “Và ba người đêm ấy không nhìn thấy Ma Ấn.”
Tạ trưởng lão gật đầu: “Đúng.”
Khoảng cách giữa điều có thể xảy ra và điều đã được chứng thực đôi khi chỉ nhỏ như một sợi tóc.
Nhưng trong chuyện liên quan tới một Kim Đan đã chết, sợi tóc ấy đủ để phân biệt điều tra với bịa đặt.
Tạ trưởng lão đặt ngọc xuống.
“Có một câu hỏi trước đây ta không hiểu,” Tạ trưởng lão nói.
Mục sư phụ hỏi: “Vì sao người chết dám gây chuyện với Huyền Thiên, còn ba Kim Đan kia lại không?”
Tạ trưởng lão đáp: “Ừ.”
Mục sư phụ nói: “Ba người kia tới để xác minh. Không có chứng cứ thì không đánh. Đó mới là cách một Kim Đan bình thường cân nhắc khi đối mặt một đại tông.”
Tạ trưởng lão nhìn tàn ấn đã bị phong kín: “Còn người chết ở giai đoạn cuối, cái cân ấy có lẽ đã không còn cân nữa.”
Ma Ấn khiến một phần hành vi từng khó hiểu có thêm một cách giải thích, nhưng không vì thế mà mọi lỗi lầm đều được đổ lên một dấu ấn.
Quyền lựa chọn của người chết vẫn tồn tại; những chuyện đã gây ra cũng không vì một ngoại lực chen vào mà biến mất.
Chỉ có cái chết ở Thanh Hà, từ đây, trở nên phức tạp hơn.
Khi ba đệ tử được gọi trở lại, việc cuối cùng là kiểm kê phần di vật còn lại.
Trong đống di vật không hiện ra thêm đầu mối nào. Chỉ có một vật dụng cá nhân hết sức bình thường nằm lẫn giữa những thứ còn lại.
Không linh áp khác thường, không cấm chế, cũng chẳng có gì trên đó dẫn về Ma Ấn.
Tạ trưởng lão chỉ nhìn một lần rồi bảo ghi vào danh mục như vốn có.
Tĩnh Y im lặng lâu hơn đôi chút.
Mục sư phụ hỏi: “Có gì?”
Tĩnh Y khẽ đáp: “Bẩm Mục sư phụ, không có gì. Chỉ là… nhìn thứ này, khó nghĩ người đó cả đời chỉ có tà công và chiến đấu.”
Mục sư phụ nói: “Không ai cả đời chỉ có một việc.”
Dạ Minh không chen vào; Vân Thâm cũng không.
Vật dụng ấy quá bình thường để kể thêm điều gì về thân thế người chết, càng không thể đổi lại những chuyện đã xảy ra. Nó chỉ nhắc rằng trước khi trở thành một thi thể nằm dưới tầng phong cấm, người kia từng sống qua những ngày không phải ngày nào cũng có máu.
Thế thôi.
Cuối buổi, ba đệ tử được cho lui.
Trong phòng chỉ còn Mục sư phụ và Tạ trưởng lão.
Ánh chiều đã nghiêng khỏi cửa sổ nhỏ. Phần tàn ấn nằm yên dưới cấm chế, im lặng đến mức khó tin trước đó nó vừa tự xóa gần như toàn bộ dấu vết của chính mình.
Mục sư phụ nói: “Không truy.”
Tạ trưởng lão gật đầu.
Mục sư phụ nhìn tàn ấn dưới cấm chế: “Chủ nhân không biết, phe phái không biết, nơi phát ra cũng không.”
Tạ trưởng lão đáp: “Ngay cả đây là thủ đoạn của một cá nhân hay một truyền thừa, chúng ta cũng chưa có căn cứ.”
Mục sư phụ nhìn phần ghi chép cuối cùng: “Vậy ghi đúng như thế.”
Tạ trưởng lão cầm ngọc lên.
Ngọc ghi chép khép lại. Không có lệnh truy xét mới, cũng không có cái tên nào được viết thêm vào khoảng trống.
Ba vị Kim Đan từng tới trong đêm vẫn là ba người độc lập đã rời đi theo ba hướng riêng. Dưới lớp phong cấm chỉ còn một mảnh tàn ấn đứt gãy, còn nguồn gốc của nó vẫn nằm ngoài tầm tay Huyền Thiên.
Tạ trưởng lão khép ngọc ghi chép lại, nhìn tàn cấu trúc dưới lớp phong cấm, chậm rãi nói:
“Có người đủ khả năng gieo thứ này vào một Kim Đan… mà chính hắn cũng không biết.”
./.
◆ Ghi Chú Nhanh
Huyền Thiên Tông — Tông môn nơi nhóm Mục sư phụ, Tạ trưởng lão cùng các đệ tử đang tu hành; cũng là nơi diễn ra Bách Pháp Đồng Tu.
Bách Pháp Đồng Tu — Đợt hợp luyện kéo dài bảy ngày sau biến cố Thanh Hà, đưa đệ tử nhiều viện học cách phối hợp công pháp và bù nhịp cho nhau.
Ma Cốt Huyết Thân — Tà công người Kim Đan vô danh từng tu luyện. Dấu vết của nó được tách riêng khỏi cấu trúc ngoại lai khi Huyền Thiên kiểm nghiệm di thể.
Ma Ấn — Tên Huyền Thiên đặt cho ấn ký ngoại lai sau khi khảo sát đủ sâu. Dấu ấn này không cướp quyền tự quyết, nhưng có thể làm lệch cảm nhận nguy cơ và khuếch đại ác niệm vốn có; nguồn gốc vẫn chưa rõ.
Dược Cốc · Trận Viện · Bách Công Viện — Ba nhánh của Huyền Thiên cùng góp sức trong lần kiểm nghiệm: Dược Cốc quan sát kinh mạch và thần hồn, Trận Viện dò quy luật linh lực, Bách Công Viện giữ vật chứng cùng dụng cụ ổn định.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.