Trầm Hương Giải Chấp - Xuyên Nhanh

Quyển 9: Trôi Dạt U Minh & Vực Sâu Cầm Cố

Chương 11: Màn Mở Xứ Đoài

Đăng: 27/09/2026 23:22 4,332 từ 5 lượt đọc

Chiều muộn ngày hai mươi ba tháng Chạp, mưa phùn bắt đầu giăng mù mịt trên con đường thiên lý nối từ chân núi Bùi Khê sang bình nguyên xứ Đoài.

Đó không phải là cơn mưa rào xối xả mùa hạ, mà là thứ mưa bụi mùa đông dầm dề, buốt lạnh như kim châm, quyện chặt với làn sương muối bốc lên từ các bãi ngâm phù sa tạo thành một tấm màn xám xịt, nhờn nhợt. Con đường đất đỏ bị xe ngựa, xe thồ cày xới nát bươm, biến thành những rãnh bùn nhão nhoét ngập đến nửa bắp chân.

Chiếc xe bò chở ba con người tàn tạ dừng lại trước một trạm dịch kiêm quán trọ phu phen tồi tàn nằm trơ trọi bên bờ một con ngòi cụt. Cách quán trọ chừng nửa dặm về phía hạ lưu, ba lò gạch thủ công đang nhả những luồng khói đen kịt, khét lẹt mùi rơm ướt và đất sét nung dở vào bầu trời chập choạng tối.

Quán trọ dựng bằng những thân tre đực già chôn nông dưới đất cát, vách trát bằng rơm trộn bùn nứt nẻ chằng chịt, mái lợp lá gồi mục rữa từng mảng lớn khiến nước mưa nhỏ tong tỏng xuống nền đất nện ẩm ướt. Mùi phân bò khô, mùi dầu trẩu thối và mùi ẩm mốc của những tấm chiếu rách lâu ngày không phơi nắng đặc quánh lại trong gian nhà ngoài, nơi mấy tay lái buôn lợn và phu xe đang ngồi co ro bên nồi cháo hoa nghi ngút khói.

Chu Bá Cửu gồng đôi bắp tay cuồn cuộn gân xanh, ghìm chặt càng gỗ của cỗ xe bò cho khỏi trượt xuống rãnh nước ven đường. Dải vải đay đỏ buộc túm mái tóc đen dày của gã sũng nước mưa, bết chặt vào vầng trán chữ điền lấm lem bùn đất. Gã quay lại, cất giọng khàn đặc:

"Thầy... Tới trạm dịch Cửa Ngòi rồi. Đêm nay không qua sông Đáy được đâu, nước mùa này cạn nhưng đò đêm bên xứ Đoài người ta cấm xuất bến vì kiêng Táo Quân."

Vương Quang vịn tay vào thành xe, bước xuống nền bùn nhão. Chân trái hắn hơi khuỵu xuống khi bàn chân dẫm trúng một mẩu gạch vỡ vùi dưới lớp bùn lầy; một cơn buốt từ mắt cá chạy ngược lên tận hông khiến hàm răng hắn va vào nhau đánh cạch. Hắn gạt lớp bùn đỏ bám trên mũi ủng da trâu, tiến lại gần đống rơm khô trên thùng xe:

"Lão Bùi. Đỡ lão xuống nghỉ."

Lão Bùi nằm cuộn tròn dưới lớp chiếu rách cựa mình rên khẽ một tiếng. Khuôn mặt chằng chịt những nếp nứt như vách đá của lão thợ đá tái mét, vết sẹo trắng chẻ đôi cung mày trái giần giật từng chặp theo cơn đau. Chiếc chân phải bị gãy gập ngàm xương được nẹp chặt bằng hai thanh tre già đã bắt đầu sưng múp lên, thâm tím như quả cà bát chín nẫu, bốc ra mùi dầu hồi và rượu gừng tanh nồng.

Lão mở đôi mắt đục ngầu, râu ria bạc phơ run lẩy bẩy, thò bàn tay to bè như chiếc xẻng sắt nắm lấy cổ tay trái của Vương Quang:

"Thầy Vương... Để tôi ở lại đây."

Vương Quang khựng lại, con mắt trái nheo lại nhìn lão:

"Ở lại? Quán trọ dịch trạm này không có thầy lang, chân lão mưng mủ thế kia, không xuôi về mạn phủ Quốc Oai tìm người nắn lại xương thì cụt chân là cái chắc."

Lão Bùi lắc đầu, khóe miệng méo xệch nhả ra một búng nước dãi lẫn khói thuốc lào khét lẹt:

"Tôi biết cái chân này của tôi... Nó nát từ trong tủy rồi, có nắn lại thì đời này cũng chỉ là thằng thọt chống gậy. Nhưng tôi không đi tiếp đâu."

Lão thợ đá chỉ bàn tay gân guốc về phía ba cái lò gạch đang nghi ngút khói bên bờ ngòi:

"Chỗ lò gạch kia... thằng cháu họ đời thứ ba của tôi đang làm chân coi lửa ở đấy. Nó thiếu người trông bễ đêm. Tôi còn hai bàn tay, còn cái búa con, ngồi một chỗ đập đất sét nung gạch mộc cũng kiếm được bát cơm thừa qua ngày... Thầy Vương, cái nghề khoét núi đục đá của tôi đến đây là hết nợ với dòng họ rồi. Đêm qua dưới bến Bùi, tôi nghe tiếng cọc gõ dưới bùn... Cả đời tôi chẻ đá ở Đèo Gió, chưa từng thấy phiến đá nào tự nứt ngược chiều nêm như thế. Tôi thấy ớn lạnh rồi."

Lão thợ đá nhìn vết mủ vàng đang rỉ ra trên xương quai xanh của Vương Quang, buông một câu đầy ám ảnh của người già vùng núi:

"Đừng quay lại Thác Khói nữa thầy Vương à... Người làm nghề trắc đạc như thầy, đào sâu quá, đo kỹ quá... khéo có ngày đất đá nó chôn chân lúc nào không biết."

Vương Quang im lặng nhìn lão thợ đá già. Hắn không an ủi, không khuyên can, cũng không bàn luận về nỗi sợ của lão. Một người thợ cả đời gắn bó với búa đục khi đã mất đi điểm tựa vào tính chất của đá thì rời nghề là một lựa chọn sinh tồn thực tế. Hắn thò tay vào túi trong áo chàm, rút túi vải thô chứa số bạc mà Văn Trấn Uy giao cho sáng nay, trút ra lòng bàn tay sần sùi của Lão Bùi năm lượng:

"Cầm lấy mà mua thuốc đắp. Số còn lại tôi giữ để trả tiền đò và mua lương khô dọc đường."

Lão Bùi run rẩy siết chặt những mẩu bạc vụn vào lòng bàn tay cáu ghét, khóe mắt chằng chịt vết chân chim ứa ra hai giọt nước đục ngầu, gật đầu lia lịa rồi để đám phu lò gạch khiêng cáng vào căn lều ven sông.

Bên chiếc xe bò rỗng, Chu Bá Cửu còng lưng kéo chiếc gùi tre bọc chiếu cói đặt xuống sàn đất dưới hiên quán trọ. Gã thanh niên bến bãi đứng sừng sững trong màn mưa phùn, đôi mắt to tròn bộc trực nhìn xoáy vào khuôn mặt gầy guộc của Vương Quang:

"Thầy... Thầy định bỏ con lại đây như lão Bùi à?"

Vương Quang quay đầu lại: "Mày có họ hàng ở bến Bùi, làng cũ của mày cách đây hai tuần đò. Cầm lấy một lượng bạc mà về quê làm ăn. Theo tao sang xứ Đoài, nội việc trắc đạc bãi bồi ven sông Hát cũng đủ làm mày chết mất xác nếu đê vỡ."

"Không về!" Chu Bá Cửu nghiến chặt hai hàm răng, để lộ chiếc răng khểnh sắc nhọn, giọng nói đanh lại đầy vẻ bướng bỉnh: "Làng con phu đò chết đói cả đám, về làm cái gì! Đêm qua ở bến Bùi, con là đứa trực tiếp buộc cáp vào khối đá bát giác cho thầy. Con đã chạm vào chiếc hộp trắc bốc mùi phèn chua kia... Thầy bảo con về làng thì con sống yên sao được khi bến sông vừa có người chết trôi, rồi quan quân lùng sục kiểm đinh gắt gao như thế? Con theo thầy! Con gánh gùi, vác thước sắt, bưng nghiên mực... Thầy ăn cháo con húp nước cháo, chết thì thầy chôn con, thế thôi!"

Vương Quang nhìn đôi bàn tay trần nứt nẻ vì giá rét của Chu Bá Cửu đang bấu chặt vào quai gùi tre. Hắn thấy trong mắt gã thanh niên này là sự hoảng sợ rất thật sau những gì đã chứng kiến ở bến Bùi, trộn lẫn với sự liều lĩnh của kẻ không còn đường lùi: Ở lại bến sông thì nơm nớp lo bị quan nha tra xét chuyện lật xà lan; đi theo người có tấm thẻ bài Ký lục, dù gian nan, vẫn là một chỗ dựa có danh phận triều đình.

"Vào trong quán," Vương Quang buông gọn một câu rồi bước qua bậc cửa liếp.

Căn phòng trọ hạng bét nằm tít góc trong cùng của trạm dịch Cửa Ngòi ẩm ướt như một cái hầm ngầm.

Bốn bức vách trát rơm bùn mốc xanh, gió bấc rít qua những khe hở thổi bạt ngọn lửa đỏ quạnh của chiếc đèn dầu lạc khét lẹt kê trên chiếc chõng tre ọp ẹp. Mùi dầu trẩu, mùi mồ hôi chua nồng của phu phen ngấm vào những thớ tre mục bốc lên ngột ngạt.

Chu Bá Cửu sau khi húp vội bát cháo hoa nguội ngắt đã ôm chiếc gùi tre nằm co quắp ở góc phản, ngáy pho pho vì kiệt sức. Dải vải đay đỏ buộc tóc của gã vẫn không tháo ra, chiếc xẻng sắt vùi dưới đống rơm khô ngay tầm với của bàn tay phải.

Vương Quang ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ cập kiêng. Hắn cởi bỏ chiếc áo chàm rách nát bên ngoài. Vết mổ nơi xương quai xanh bên vai phải bị cọ xát suốt một ngày đường lại bục miệng, mủ vàng hòa lẫn với dịch nhầy rỉ ra bết chặt lớp vải đay lót vào miệng thịt toang hoác. Hắn cắn chặt một chiếc nêm gỗ vào giữa hai hàm răng, tay trái dứt mạnh lớp vải dính ra khỏi vết thương.

Xoẹt.

Cơn đau buốt nhói chạy dọc theo xương sống khiến trán hắn toát ra một lớp mồ hôi lạnh ngắt. Quanh miệng vết rạch, thịt thối tái mét viền một đường tím bầm, lạnh ngắt như thịt ướp đá.

Hắn với lấy chiếc gương đồng ố vàng treo trên vách tre, đưa sát mặt vào ngọn đèn dầu lạc.

Trong mặt gương mờ đục dính đầy bồ hóng, khuôn mặt hắn gầy hốc hác, hai gò má hóp sâu xám ngoét. Nhưng thứ khiến ngón tay cầm gương của hắn khựng lại chính là con mắt phải:

Lớp màng xám đục ngầu dưới cái lạnh thấu xương của đêm hai mươi ba tháng Chạp đã co cụm lại, ngưng tụ thành một vòng tròn đồng tâm viền đen sắc cạnh, ôm trọn lấy rìa ngoài của con ngươi. Tròng đen mắt phải của hắn như bị giam hãm bên trong một chiếc vòng đen sì; khi hắn nhìn thẳng vào ngọn lửa đèn dầu, ánh lửa không hề phản chiếu trong mắt phải, mà chỉ bị hút sâu vào một khoảng tối thăm thẳm.

Hắn chớp mắt. Mắt trái nhức buốt, tầm nhìn mờ đi một bậc rõ rệt, những thớ gỗ trên mặt bàn nhòe đi như bị phủ một lớp sương mù.

Hắn không biết vòng đồng tâm viền đen này có ý nghĩa gì, nhưng cái giá thể xác sau những đêm thức trắng đo đạc bên dòng nước buốt đã hiện rõ mồn một: mắt phải biến đổi thì mắt trái suy giảm thị lực, cơ thể càng lúc càng sợ cái lạnh. Hắn thò tay vào túi vải, nhặt một miếng trầu khô cùng cục vôi nồng nhét vào khoang miệng, nghiến chặt răng nhai ngấu nghiến. Vị cay xè xé rách đầu lưỡi và vị nồng của vôi bốc lên thái dương giúp hắn ghìm lại cơn run rẩy nơi các đầu ngón tay.

Vương Quang đặt gương đồng xuống, trải hai tờ giấy bổi phẳng phiu lên mặt bàn tre.

Hắn mài mực nho vào chiếc nghiên đá mẻ miệng, cầm ngọn bút lông thỏ cứng cáp, bắt đầu thực thi chức trách ghi chép của một Ký lục.

Hắn viết tờ trình thứ nhất — Bản báo cáo hành chính nộp cho Đốc Vận Ty và nha môn quản hạt:

"Giờ Tỵ ngày hăm mốt tháng Chạp, luồng lạch bến Bùi qua trắc đạc cho thấy mực nước dâng cao, lưu tốc dòng chảy tăng đột ngột do nước lũ thượng nguồn dồn toa. Nền cát đệm bờ nam bị xói lở cục bộ, xà lan số ba va chạm doi cát ngầm sụt trượt, đứt cáp kéo bờ dẫn đến nghiêng lật, trôi mất lương thóc.

Đốc Vận Ty đã khơi thông luồng lạch phụ phía nam né tránh chướng ngại lòng sông, bảo toàn mười một xà lan tiếp tục hành trình.

Kiểm đinh phu dịch trên bờ trước giờ rời bến: đúng 46 người sống nhận tiền chẩn và giấy lộ dẫn.

Các cọc gỗ cũ nhô lên do xói lở đáy sông đã được cắm tiêu cảnh báo để thuyền bè tránh va quẹt."

Vương Quang viết bằng ngôn ngữ trắc đạc và hành chính chuẩn mực. Hắn không bịa ra chuyện không có thật: lòng sông quả thực đã xói lở, cáp quả thực đã đứt, 11 xà lan quả thực đã đi qua lạch mới, và số người sống trên bãi cát quả thực là 46.

Nhưng hắn chủ động lược bỏ toàn bộ những gì chưa đủ chứng cứ cơ học để giải trình: chiếc thuyền thứ mười ba không mái chèo, tiếng gõ đáp lời dưới chân cọc, vảy cá tanh tưởi và những chữ bùn rỉ máu. Triều đình và nha môn cần một bản báo cáo duy vật, hợp thức hóa được số liệu hư hao để giữ yên trật tự vận lương; còn những hiện tượng vượt ngoài phạm vi thước đo, đưa vào công văn chỉ rước lấy án chém vì tội hoang ngôn mê hoặc lòng dân.

Sau khi rắc bột cát khô lên mặt giấy để thấm mực, Vương Quang gấp tờ trình thứ nhất lại, niêm phong cẩn thận.

Rồi hắn kéo tờ giấy thứ hai lại gần ngọn đèn — trang nhật trình thực địa mà hắn tự giữ riêng cho mình.

Tại đây, hắn ghi lại sự thật vật chất trần trụi mà thước sắt và mắt thấy tai nghe đã ghi nhận, không gọt giũa, không che đậy:

"- Chân cọc lim chữ 'MÔN' có khối chuông đồng đúc rỗng ngàm vào đá, bên dưới có khoảng rỗng hút nước xoáy.

- Chèn mảnh đá bát giác chữ 'Trấn' vào mộng khuyết $\rightarrow$ tiếng rung kim loại dưới đáy bùn tắt hẳn $\rightarrow$ dòng xoáy chân cọc yếu đi $\rightarrow$ cửa khoang thuyền thứ mười ba mở ra.

- Mặt nước phẳng lặng không có bóng người sống trên cầu tàu. Dưới nước nổi ba hình bóng: một cầm thước sắt, một áo nâu gãy cổ, một áo quan phục viền lông cáo.

- Thân người trên mũi thuyền mang vết đục hoa thị tám cạnh ngang yết hầu, khớp với kích thước nêm đá Thác Khói. Không xác định được danh tính.

- Kiểm đinh thực tế trên bãi bồi: 46 người sống. Sổ bộ Đốc Vận Ty ghi nhận 47 dòng: xuất hiện dòng chữ mới 'Lục Đinh — đã lĩnh thuyền' đè dấu lá liễu khuyết góc.

- Đáy hộp trắc rỗng đọng lớp bột màu xanh đen, mùi lưu huỳnh và phèn chua. Mảnh đá đã nằm dưới nước sâu khoảng ba trượng.

- Tại vị trí cọc 'HẠN' trồi lên một cọc gỗ mới, trên đầu cọc buộc dải vải rách từ áo chàm của người đo đạc."

Hắn dừng bút. Hắn không gọi đây là "tà thuật", không kết luận "cõi Âm đòi nợ". Hắn chỉ ghi nhận sự sai lệch giữa thế giới vật chất trần gian và những thứ hắn chạm phải. Nhiệm vụ của hắn là giữ lấy những ghi chép này, bởi nếu chính kẻ cầm thước như hắn cũng thỏa hiệp xóa sạch vết tích, thì sự thật về những người đã ngã xuống sẽ vĩnh viễn biến mất sau những bản báo cáo bóng bẩy của quan nha.

Hắn thở hắt ra một hơi dài, đặt ngọn bút lông xuống nghiên đá.

Bàn tay trái thò vào nẹp áo ngực, hắn lôi chiếc phong bì da hươu niêm sáp son mang bốn chữ “BÙI KHÊ THỦY ĐẠO” ra mặt bàn.

Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu lạc, Vương Quang cầm lấy con dao gọt bút bằng thép nguội. Lưỡi dao mỏng dính cẩn thận cạo từng lớp mực nho đen nhánh quét đè trên góc phải của phong bì — lớp mực mà ai đó đã cố tình quét lên để xóa sạch con dấu cơ quan ban hành trước khi giao cho Dịch phu Lục Đinh vận chuyển.

Rột... rột...

Từng mảng muội than và keo da trâu khô giòn tróc ra dưới lưỡi dao sắc bén.

Dưới lớp mực đen dày đặc, một góc ngấn dấu triện màu son điều dần dần lộ ra.

Đó là góc của một con triện hình quả trám, đường viền chạm hoa văn mây lửa cuộn Tả Triền sắc sảo — quy cách chế tác chỉ thấy ở những văn phòng cơ mật tại Kinh kỳ. Và bên trong góc quả trám ấy, hiện rõ ba chữ triện khắc chìm bằng nét thảo:

“...Thừa Phụng Thủy...”

Ngón tay cầm dao của Vương Quang bỗng dừng lại.

Thừa Phụng Thủy Lệnh.

Con dấu này không thuộc về Đốc Vận Ty, không thuộc về Binh Bộ hay Hình Bộ. Nó mang quy chuẩn của Khâm Thiên Giám Kinh kỳ — nha môn chuyên trông coi thiên văn, địa lý và trắc đạc sông núi của triều đình, cơ quan cấp trên của chính hắn!

Trán Vương Quang rịn ra một lớp mồ hôi lạnh. Hắn không tự vẽ ra một âm mưu to lớn nào cả. Hắn chỉ ghi nhận một sự thật hành chính lạnh người:

Chuyến xe thồ chở thuốc súng đen và nêm thép lên phá cọc đá Thác Khói... có dính líu đến quyền hạn giấy tờ của Khâm Thiên Giám. Cơ quan sai phái hắn đi đo đạc bến bãi, và kẻ ra lệnh vận chuyển công cụ phá đá ngầm, dùng chung một kiểu thức con dấu.

Cộc... cộc... cộc...

Một tiếng gõ cửa khô khốc, dứt khoát vang lên từ phía cửa liếp gian ngoài, xé toạc màn đêm tĩnh mịch.

Vương Quang lập tức cụp nắp tráp gỗ, giắt chiếc phong bì da hươu sâu vào nẹp sườn trái, tay trái vớ lấy thanh Thiết Xích Khảo Sát đặt ngang trên đầu gối.

"Ai đó?" Hắn cất giọng lạnh tanh.

Không có tiếng trả lời của chủ quán trọ. Chỉ có tiếng ủng da dẫm trên nền đất ướt sột soạt, nặng nề và chuẩn xác theo nhịp bước của người nhà binh.

Kẹt...

Cánh cửa liếp tre bị đẩy mạnh sang một bên.

Gió bấc thốc một luồng mưa phùn lạnh ngắt vào gian phòng, làm ngọn đèn dầu lạc chao đảo dữ dội, suýt tắt ngấm.

Hai bóng người đứng sừng sững dưới khung cửa.

Người đi đầu là một gã kỵ mã vạm vỡ, mặc chiếc áo choàng lông quạ đen tuyền đẫm nước mưa, đầu đội nón dấu sơn then buông rèm vải chống rét, thắt lưng da bò đeo đoản đao nẹp đồng. Hắn không bước vào phòng, chỉ đứng chắn ngang bậu cửa, một tay đặt hờ lên chuôi đao, ánh mắt lạnh lùng như mắt chim ưng quét qua Chu Bá Cửu đang giật mình choàng dậy, rồi dừng lại trên người Vương Quang.

Và ngay sau lưng tên kỵ mã, một bóng người thứ hai chầm chậm bước qua ngưỡng cửa.

Đó là một nữ tử.

Nàng mặc một bộ áo tơi đen bằng vải đay tráng nhựa đường chống nước, vạt áo gọn gàng bó sát thân hình thon thả nhưng chắc nịch của người quen cưỡi ngựa đường trường. Khuôn mặt nàng được che kín bởi một tấm mạng lụa mỏng màu chàm chống cát, chỉ để lộ ra một vầng trán trắng xanh dãi dầu sương gió và đôi mắt phượng dài hẹp, sắc lẹm. Mái tóc đen tuyền được búi cao gọn gàng sau gáy, cố định bằng một chiếc trâm cài bằng thép nguội dài nửa thước, chuôi trâm vót nhọn hoắt.

Nàng bước vào phòng ba bước, rồi dừng lại phăng phắc.

Khoảng cách giữa nàng và chiếc bàn của Vương Quang: Đúng ba bước chân. Không tiến thêm một phân, không lùi lại một tấc.

Nàng đưa bàn tay phải lên. Bàn tay thon dài, ngón trỏ có một vết chai sâu và dày của người dùng cung nỏ tầm ngắn. Trên lòng bàn tay nàng lật ngửa một tấm thẻ bài bằng đồng thau nặng trịch.

Trên mặt thẻ bài khắc chìm hình một chiếc lá liễu bị khuyết một góc — giống hệt con dấu kiểm đinh mực son tươi rói vừa đóng đè lên tên Lục Đinh trong cuốn sổ bộ Đốc Vận Ty sáng nay!

Vương Quang siết chặt thanh thước sắt trong tay trái, cơ bắp căng cứng nhưng mặt không biến sắc:

"Khách phương nào đêm hôm gõ cửa?"

Nữ tử không trả lời câu hỏi của hắn. Ánh mắt sắc như dao cạo của nàng quét qua vết mủ vàng trên vai phải của Vương Quang, dừng lại trên những hạt bột màu xanh đen còn vương trên mép chiếc gùi tre của Chu Bá Cửu, rồi hạ xuống thanh Thiết Xích Khảo Sát dính bùn đất bến Bùi đặt trên đùi hắn.

Nàng cất tiếng. Giọng nói của nàng trong trẻo nhưng lạnh buốt, phát ra sau tấm mạng lụa chàm:

"Ngoại ngạch Hành Trình Ký Lục Vương Quang phụng mệnh tiếp nhận công vụ."

Nàng thò tay vào trong vạt áo tơi đen, rút ra một ống đồng niêm phong bằng sáp tím sẫm, đặt lên mép bàn tre cách Vương Quang ba bước chân.

"Ta là Thanh Diệp, Tùy Viên Giám Sát của Đô Sát Viện kiêm phối thuộc Ngạch Quan Âm Bí Thư," nàng nói, từng chữ rơi xuống mặt bàn nặng như chì: "Lệnh từ Kinh kỳ: Ngươi không cần theo thuyền lương về phủ Nam Đinh nữa. Rạng sáng mai, chuyển hướng lập tức sang ngã ba sông Hát xứ Đoài. Đi cùng ta."

Vương Quang nhìn ống đồng niêm sáp tím, không vội cầm lấy:

"Bến Bùi vừa xong việc. Hạ quan chỉ là kẻ ghi chép cao trình luồng lạch ngoài biên ngạch, không có nhiệm vụ đi theo Đô Sát Viện."

Thanh Diệp khẽ nhếch khóe môi sau lớp mạng lụa:

"Ngươi nghĩ dòng nước ở bến Bùi yên rồi sao? Ngươi nghĩ dùng một khối đá bát giác chèn lại mộng ngầm là luồng lạch sẽ thông suốt mãi mãi sao?"

Nàng bước chếch sang bên nửa bước, ánh mắt khóa chặt vào con mắt phải mang vòng đồng tâm viền đen của hắn:

"Thư lại Vương, vết bùn dưới móng tay ngươi vẫn còn mùi phèn của vùng Thác Khói. Vạt áo chàm của ngươi bị đứt một mảnh, hiện đang buộc trên đầu chiếc cọc cắm giữa dòng sông Bùi. Ngươi không đi Luy Lâu với ta để đo đạc và kiểm tra hiện trường cỗ quan độc mộc đang mắc kẹt dưới bùn lầy sông Hát, thì ba ngày nữa, với cái vai rỉ mủ và con mắt kia, ngươi nghĩ mình sống sót được qua mùa đông này sao?"

Nàng ngừng lại một nhịp, giọng nói hạ thấp xuống mang màu sắc nghiệp vụ rõ rệt:

"Đi Luy Lâu lần này, tốt nhất giữ cho cái miệng của ngươi sạch hơn thanh thước sắt kia. Triều đình cần một bản đồ sạt lở đê điều để dẹp yên dân chúng bên sông Hát; còn những gì nhìn thấy dưới đáy bùn... kẻ nào hé răng nửa lời, đao của Đô Sát Viện sẽ chém trước khi dòng nước kịp đòi nợ."

Nói xong, Thanh Diệp xoay người bước ra cửa liếp, tà áo tơi đen phất nhẹ trong gió lạnh:

"Giờ Mão xuất phát. Đừng để ta phải vào lôi xác ngươi ra xe."

Bóng nàng cùng tên kỵ mã áo lông quạ lập tức tan biến vào màn mưa phùn mịt mùng của đêm đông.

Gian phòng trọ rơi lại vào sự tĩnh lặng chết chóc. Chu Bá Cửu nuốt khan một búng nước bọt, run rẩy bước lại gần bàn: "Thầy... Người đàn bà đó là ai thế? Người hay ma mà mắt sắc như dao vậy?"

Vương Quang không đáp.

Hắn vươn bàn tay trái cầm lấy chiếc ống đồng trên bàn, dùng móng tay cậy bung lớp sáp tím sẫm, rút ra tờ công văn hỏa tốc bằng giấy sắc phong màu ngà.

Dưới ánh đèn dầu lạc leo lét, dòng chữ son viết lối chân phương hiện ra rõ mồn một: Điều động Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang phối thuộc đội trắc đạc hiện trường thủy đạo Luy Lâu.

Thế nhưng, khi lật mặt sau của tờ công văn, con mắt trái của Vương Quang bỗng co rút lại.

Ngay dưới góc mép giấy bồi, có một dòng chữ bị ai đó dùng một vệt mực đen quét đè lên để che giấu. Vệt mực quét vội vã, để lộ ra hai chữ cuối cùng viết bằng lối chữ triện gãy góc:

“...TRẢ NGƯỜI.”

Gió bấc rít từng hồi qua khe liếp tre, thổi bạt làn khói đèn dầu lạc khét lẹt.

Vương Quang cúi đầu nhìn xuống lòng bàn tay trái của mình. Dưới ánh sáng vàng vọt, vệt bùn đen mảnh như một sợi chỉ máu dính chặt từ đêm qua ở bến Bùi vẫn nằm nguyên ở đó, ăn sâu vào thớ da thịt nứt nẻ, không có cách nào rửa sạch.

Những gì xảy ra ở bến Bùi không hề kết thúc sau khi đoàn thuyền lương rời bến. Nó đang theo chân hắn, vượt qua sông Đáy, tiến thẳng vào bình nguyên xứ Đoài.

Vương Quang chầm chậm cuộn tờ công văn lại, nhét vào ống đồng. Hắn đứng thẳng người dậy, cầm lấy thanh Thiết Xích Khảo Sát mòn vẹt, cất giọng khô khốc:

"Cửu. Buộc gùi. Lên đường."

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3