Chương 155: Người Chết Chưa Về
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
155 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 155/155 chương
Nắng sớm ngày thứ bảy phủ xuống sân trạm dịch Nam Quan, nhợt nhạt và lạnh lẽo.
Sương muối đọng trên mái ngói âm dương bắt đầu tan, từng giọt nước đục rơi dọc theo mép hiên. Dưới ánh sáng ban ngày, những dấu vết còn sót lại sau đêm kinh hoàng hiện rõ trên nền đá sỏi: một vệt bùn đen đóng thành từng mảng khô ráp, bắt đầu từ chân cổng rào, kéo ngoằn ngoèo qua sân rồi dừng đột ngột trước bậc thềm gạch. Không ai giải thích được vì sao dòng bùn ấy lại kết thúc ở đó, cũng không ai muốn cúi xuống kiểm tra xem bên dưới lớp bùn khô còn sót lại thứ gì.
Tại góc đông bắc, chiếc cọc gỗ dâu từng giữ sợi dây chu sa đã bạc trắng như vôi. Sợi dây gai chín tao chùng xuống, những thớ đay xơ xác bám đầy cặn xám, tỏa ra mùi tanh nồng như bùn dưới đáy đầm lâu ngày.
Đặng Hữu nằm mê man trên chiếc chõng tre trong gian chái phụ. Một viên lại dịch đang dùng vải thô tẩm rượu gừng quấn quanh bàn chân phải của gã. Từ mắt cá trở xuống, da thịt đã chuyển sang màu tím sẫm, lạnh ngắt dù ánh nắng sớm đã rọi qua cửa sổ. Năm vết bầm đen hình ngón tay vẫn hằn sâu quanh cổ chân, không hề nhạt đi trước sức nóng của thuốc men thông thường.
Cách đó vài bước, Khoát, gã phu trẻ từng ngất lịm trong đêm, đã tỉnh lại. Gã ngồi co ro trong góc tường, hai tay ôm chặt đầu gối, mắt nhìn trừng trừng ra khoảng sân ngập nắng. Mỗi khi có người hỏi chuyện, gã chỉ lắc đầu, miệng lẩm bẩm những âm tiết rời rạc mà chẳng ai hiểu được.
Phan Đình Giản đứng ở đầu thềm, đôi mắt thâm quầng sau một đêm thức trắng. Ông khoác lại chiếc áo dạ xám, lặng lẽ nhìn viên Trạm thừa cùng đám lính dùng xẻng thu dọn lớp bùn đen ngoài sân. Tất cả đều được xúc vào những chiếc sọt riêng rồi chuyển đi đổ ở một khu đất hoang cách xa nguồn nước của trạm.
Không ai muốn để thứ bùn ấy tiếp tục nằm dưới chân mình.
Viên quan áp vận Lê Phụ bước tới. Vẻ hống hách thường ngày đã biến mất, chỉ còn lại sự mệt mỏi cùng nỗi bất an chưa kịp che giấu.
“Phan Tư vụ, xe ngựa áp tải đã chuẩn bị xong. Ty Công dịch sẽ lên đường đầu giờ Thìn, cố gắng về phủ Lạng Sơn trước khi trời tối. Còn bản tường trình sự việc đêm qua…”
“Ghi những gì có thể giải trình trước công đường.” Phan Đình Giản ngắt lời, giọng khô khốc. “Chướng khí từ lòng đất bốc lên qua các khe nứt, khiến một số đinh phu trúng độc, phát cuồng rồi xô xát gây thương tích. Ba thùng thuốc nổ phải giữ nguyên niêm phong, chuyển về kho. Tuyến vách tây tiếp tục rào chắn bằng hai tầng cọc tre, cấm người qua lại. Công việc san lấp tạm thời chuyển sang tuyến vòng phía đông, theo bốn mốc khảo trắc đã được Khâm Thiên Giám xác nhận.”
Lê Phụ nuốt khan, chắp tay đáp:
“Hạ quan tuân lệnh.”
Không ai nhắc đến năm cái bóng ngoài màn sương. Cũng không ai đề cập đến những tiếng gọi tên người chết vang lên suốt đêm.
Một bản tường trình được viết gấp ngay tại trạm, đóng triện của Bộ Công và trạm dịch Nam Quan. Trên giấy tờ, biến cố đêm trước đã được quy về một sự cố do chướng khí và tai nạn lao động. Những gì không thể giải thích bị gạt khỏi phần công văn lưu hành, không phải vì chúng chưa từng xảy ra, mà vì không có cách nào trình bày chúng trước công đường mà không biến toàn bộ sự việc thành một câu chuyện hoang đường.
Vương Quang đứng bên mép hiên, lặng lẽ thu hồi những chiếc cọc gỗ dâu.
Hắn dùng mũi dao nhỏ nạy từng chân cọc khỏi khe gạch. Chiếc cọc ở góc đông bắc bị hàn uế xâm thực nặng nhất. Khi lớp đất bám quanh chân cọc bong ra, những thớ gỗ bên trong đã mục xốp, tỏa mùi tanh khó chịu. Vương Quang không giữ lại nó, mà giao cho Đỗ Bình mang đến lò đốt rác của trạm, thiêu thành tro rồi xử lý riêng.
Cuộn dây gai chín tao tẩm chu sa đã bạc màu được hắn cuộn lại cẩn thận, đặt xuống đáy chiếc tráp da cá đuối cùng thanh Thiết Xích.
Bàn tay trái của hắn vẫn tê dại sau nhiều giờ ghì thanh thước thép xuống khe đá. Các khớp ngón tay cứng đờ, khó co duỗi. Cổ tay phải đã ngừng chảy máu, nhưng mỗi cử động vẫn kéo theo cơn đau âm ỉ từ vết thương cũ.
“Thầy ơi, xe trạm của Giám đã thắng ngựa xong rồi.”
Thằng Cửu ôm bọc tài liệu đứng ở đầu hiên, nói nhỏ. Cậu cố không nhìn sang gian chái nơi Đặng Hữu đang nằm.
Vương Quang khẽ gật đầu, kiểm tra lại chiếc tráp rồi cùng Trần Húc và Đỗ Bình ra khỏi trạm. Cỗ xe của Khảo Trắc Doanh đã chờ sẵn bên ngoài, mui phủ bạt xanh chàm, những tấm ván bên thành xe còn bám bụi đường từ chuyến đi trước.
Khi bánh xe gỗ lăn qua cổng rào Nam Quan, Vương Quang ngoái đầu nhìn lại lần cuối.
Dãy núi đá vôi Quỷ Môn sừng sững dưới nắng sớm hanh vàng. Bốn cọc gỗ thị đánh dấu tuyến khảo trắc phía đông vẫn đứng trên vách đá, nhỏ bé giữa những đường nứt ngoằn ngoèo. Phía tây, họng vực Hãm Địa chìm trong bóng núi, im lìm như chưa từng nuốt chửng bất kỳ ai.
Hắn thu ánh mắt về.
Có những thứ càng cố nhìn cho rõ, người ta càng không thể xác định được chúng đang nằm ở đâu.
Đoàn xe men theo đường núi, đi qua trạm Đồng Đăng, đổi ngựa hai lần rồi tiếp tục xuôi về phía nam. Đến chiều muộn ngày hôm sau, cổng gỗ lim của Khảo Trắc Bắc Doanh mới hiện ra sau rặng tre ngà ven đê.
Bắc Doanh vẫn vận hành theo nhịp điệu thường nhật của một nha môn khảo trắc. Mùi giấy bản phơi sương hòa với mùi mực nho mới mài. Thư lại đi lại giữa những dãy hành lang, đối chiếu địa bạ, kiểm tra công văn đê điều và gọi nhau xác nhận số liệu. Tiếng bước chân, tiếng lật giấy cùng tiếng nghiên mực va nhẹ lên mặt bàn khiến nơi này có vẻ bình yên đến mức gần như xa lạ với những gì vừa xảy ra ở Quỷ Môn.
Vương Quang ôm chiếc tráp da cá đuối, một mình bước lên bậc đá dẫn vào sảnh sự vụ của Chủ sự Lương Phương.
Trong gian phòng rộng rãi, Lương Phương ngồi sau chiếc bàn gỗ lim đen bóng, đang xem một xấp công văn đê điều gửi về từ ngã ba sông Hát. Nghe tiếng bước chân dừng trước cửa, viên Chủ sự chính lục phẩm đặt bút lông xuống giá, ngẩng đầu nhìn người vừa trở về.
“Vương Ký lục.”
Ánh mắt ông lướt qua gương mặt hốc hác của hắn, dừng lại trên cổ tay phải quấn vải thô.
“Cả đoàn trở về đầy đủ chứ?”
“Bẩm Chủ sự, ba người trong đoàn khảo sát cùng một thư đồng đều đã trở về. Không có người mất tích trên đường hồi trình.”
Vương Quang bước tới, đặt cuốn nhật trình khảo trắc Quỷ Môn cùng ba bản biên bản có chữ ký của Phan Đình Giản và Lê Phụ lên bàn.
Lương Phương kéo cuốn sổ lại gần, lật xem từng trang. Ngón tay ông dừng ở bản vẽ mặt cắt họng vực phía tây, các số đo góc lệch của la bàn thủy và thỏa thuận niêm phong, cấm nổ mìn san lấp nền đá.
Ông đọc rất chậm, đối chiếu những con số với bản đồ tuyến đường vòng phía đông. Không có lời khen ngợi nào được đưa ra, nhưng nét mặt nghiêm nghị dần giãn ra.
“Bộ Công chấp nhận bỏ tuyến san lấp phía tây, chuyển sang đường vòng qua vách đông. Xét theo địa hình và những số liệu ngươi mang về, đó là phương án phù hợp nhất trong tình hình hiện tại. Biên bản cũng đã ghi rõ phạm vi trách nhiệm, lấy số liệu khảo trắc làm căn cứ, không tự ý can thiệp ngoài thẩm quyền.”
Ông khép sổ lại.
“Phần việc hành chính của ngươi tại Quỷ Môn, đến đây coi như hoàn tất.”
“Đa tạ Chủ sự.”
Vương Quang mở chốt đồng của chiếc tráp da cá đuối, lấy ra một phong bì bằng giấy da trâu dày. Miệng phong bì được niêm kín bằng sáp đen, trên mặt sáp in dấu vòng tròn đồng tâm.
“Còn đây là phụ lục quan trắc dị thường được lập tại hiện trường, theo quy thức bảo mật.”
Căn phòng lặng đi.
Lương Phương đón lấy phong bì. Ông không mở ra xem, cũng không hỏi những nội dung bên trong. Sau khi kiểm tra dấu niêm phong, ông mở ngăn kéo có khóa đồng dưới bàn, đặt phong bì vào trong rồi khóa lại.
“Tập phụ lục này sẽ được chuyển bằng tuyến ngựa trạm đặc vụ về Tàng Bản Lâu, giao cho Chưởng Độc Vũ Đình Cửu trước giờ Tý đêm nay.” Ông nhìn thẳng vào Vương Quang. “Bản gốc không được nhập vào hồ sơ công vụ lưu hành của Bắc Doanh. Những bản sao, nếu có, phải được kiểm soát theo đúng quy thức. Ngươi hiểu chứ?”
“Hạ quan đã rõ.”
Lương Phương gật đầu, đứng dậy đi tới chiếc tủ gỗ tếch gắn sát vách tường phía sau. Ông tra chìa khóa vào ổ, mở một ngăn kéo hẹp có dán nhãn niêm phong từ mùa thu năm ngoái.
Từ trong tủ, ông lấy ra một bọc vải chàm đã phai màu, đặt lên bàn trước mặt Vương Quang.
“Đây là hồ sơ và di vật cá nhân của cố Ký lục Hồ Lương. Một năm trước, sau vụ sạt lở tại Quỷ Môn, lính trạm của Bộ Công đã thu dọn chúng từ lán khảo sát. Bộ Công chuyển về Bắc Doanh để đối chiếu những khí cụ của Giám bị thất lạc.”
Ông nhìn chiếc tráp da cá đuối trên bàn.
“Ngươi vừa trở về từ hiện trường, lại mang theo vật chứng mới. Hãy đối chiếu với danh mục khí cụ trước khi niêm phong lưu kho.”
Vương Quang lấy chiếc hộp gỗ nhỏ bên trong tráp, đặt lên bàn. Mảnh gỗ sơn đỏ, quả rọi chì mang ba vết xước do ma sát và mẩu đinh đồng có dấu cạy được xếp riêng, không để chúng chạm vào nhau.
Lương Phương tháo nút buộc của bọc vải chàm.
Bên trong có một ống đồng đựng thẻ bài công vụ đã móp méo, một nghiên mực đá sứt góc, vài ngọn bút lông khô cứng và hai tập nhật trình dang dở của Hồ Lương, ghi lại những ngày khảo sát cuối cùng trước khi ông mất tích.
Vương Quang cầm mảnh gỗ sơn đỏ nhặt được dưới đáy vực, đặt sát vào phần cán thước trắc đạc gãy đôi nằm trong bọc di vật.
Hai mảnh ghép khít với nhau.
Đường vân gỗ thị tiếp nối liền mạch. Lớp sơn đỏ bong tróc ở hai đầu tạo thành những đường nứt tương ứng, còn vết khắc tên “Hồ Lương” bằng mũi đục cơ học trùng khớp về độ sâu lẫn góc nghiêng.
Vương Quang kiểm tra thêm một lần nữa rồi mới đặt chúng xuống.
Mảnh gỗ dưới đáy vực quả thực là một phần dụng cụ tùy thân của Hồ Lương.
Hắn mở tập nhật trình cũ.
Những trang đầu ghi chép cẩn thận cao độ địa hình, mực nước suối và sai số đo đạc. Nét chữ đều đặn, các con số được đối chiếu nhiều lần, bên lề còn có những ghi chú sửa đổi bằng mực nhạt.
Nhưng ở ba trang cuối, viết trong những ngày trước khi tai biến xảy ra, chữ viết bắt đầu xiêu vẹo. Một vài con số bị gạch xóa vội vã, bên cạnh là những đường nét nguệch ngoạc cho thấy người viết đã không còn đủ bình tĩnh để hoàn thành quy trình ghi chép thông thường.
Ở góc dưới cùng của trang cuối, bên cạnh một dòng số đo bị gạch bỏ, có một hình vẽ bằng mực son tàu đã xỉn màu.
Một vòng tròn nhỏ. Bên trong là ba dấu chấm xếp thành hình tam giác cân, phía dưới có hai nét gạch xiên song song cắt qua mép vòng tròn.
Ngay bên dưới, Hồ Lương viết một dòng ngắn:
“Đêm mùng chín, có xe ngựa không cờ hiệu đi qua lạch suối ngầm. Bốn đầu cọc gỗ kéo lên từ lòng vực đều mang dấu này. Không thuộc quy thức của Giám.”
Mắt phải của Vương Quang khẽ giật.
Ba dấu chấm. Hai nét gạch xiên.
Hình dạng ấy tương ứng với dấu khắc trên thùng chiếc xe ngựa lạ mặt mà lão Triệu từng mô tả sau vụ nhổ đinh đồng ở Bùi Khê năm ngoái. Nó cũng có cấu trúc hình học tương tự dấu xuất hiện trên mộng gỗ của đài cọc chìm tại nơi ấy.
Hai địa điểm cách nhau hàng trăm dặm. Một dấu khắc được ghi trong nhật trình của người đã mất tích, dấu còn lại xuất hiện trong lời khai liên quan đến một vụ việc khác.
Vương Quang không vội đặt chúng vào cùng một hồ sơ kết luận. Hắn chỉ nhìn kỹ hình vẽ thêm một lần, ghi nhớ những điểm tương đồng và những khác biệt có thể nhận ra.
“Có chỗ nào không khớp sao?” Lương Phương hỏi.
Vương Quang khép tập nhật trình lại, ngẩng đầu. Nét mặt hắn trở về vẻ bình thản thường ngày.
“Bẩm Chủ sự, mảnh gỗ sơn đỏ khớp với cán thước trắc đạc của Hồ Ký lục. Quả rọi chì cũng phù hợp với kích thước trong danh mục cấp phát. Riêng cuốn nhật trình có một số ký hiệu hình học chưa thấy trong quy thức hiện hành. Hạ quan xin sao lục hình dạng và ghi rõ nơi phát hiện để tiện tra cứu về sau.”
Lương Phương nhìn hắn trong chốc lát.
“Được. Mảnh gỗ và quả rọi được ghi vào danh mục thu hồi tài sản công vụ. Cuốn nhật trình giữ nguyên trạng, không được tẩy sửa hay tách rời các trang.”
Ông dừng lại trước hình vẽ.
“Còn những ký hiệu này, nếu chưa có văn bản quy chuẩn để đối chiếu, chỉ được ghi là dị ký chưa rõ lai lịch. Không tự tiện định thành dấu hiệu của một môn phái, cũng không được nối chúng với những vụ án khác khi chưa có căn cứ.”
“Hạ quan tuân lệnh.”
Vương Quang mở sổ tay cá nhân, dùng bút than sao lại hình tròn, ba dấu chấm và hai nét gạch xiên. Hắn ghi rõ ngày tháng, nơi phát hiện và nguồn của hình vẽ, sau đó viết bên cạnh một dòng ngắn:
Dị ký chưa rõ lai lịch. Chưa đủ căn cứ định danh.
Không có suy đoán nào được thêm vào.
Hắn không ghi đó là dấu của tà phái. Không kết luận nó có liên quan đến Bùi Khê. Hắn chỉ lưu lại một điểm tương đồng về hình dạng giữa hai hiện trường cách xa nhau, chờ ngày có thêm vật chứng hoặc lời khai đủ tin cậy để đối chiếu.
Lương Phương thu hồi bọc di vật của Hồ Lương, đặt lại vào tủ rồi khóa ngăn kéo bằng chìa đồng. Sau đó, ông trở về bàn, ký tên ở trang cuối cuốn nhật trình khảo trắc Quỷ Môn.
“Chuyến công vụ Quỷ Môn kết thúc tại đây. Hồ sơ hành chính được đóng theo biên bản đã lập. Riêng tình trạng của bốn người thuộc đoàn Hồ Lương vẫn giữ nguyên là mất tích, chưa đủ căn cứ xác nhận tử vong.”
Ông đẩy cuốn sổ về phía Vương Quang.
“Bàn giao bản gốc cho thư lại lưu trữ rồi về nghỉ. Cổ tay phải của ngươi bị thương không nhẹ. Tìm thầy thuốc xem xét, đừng để ảnh hưởng đến kỳ thu trắc sắp tới.”
“Tạ ơn Chủ sự.”
Vương Quang nhận lại sổ, chắp tay hành lễ rồi rời khỏi sảnh sự vụ.
Hồ sơ Quỷ Môn đã có nơi lưu giữ. Vật chứng đã được kiểm kê. Những điều có thể giải trình trước công đường đều đã được ghi vào biên bản. Những điều chưa thể giải thích được bảo toàn trong phụ lục mật và sổ tay của hắn.
Nhưng đối với bốn người mất tích một năm trước, chữ ký trên một cuốn sổ không thể thay thế cho câu trả lời.
Và đối với những bóng người xuất hiện ngoài trạm dịch đêm qua, không có bất kỳ dòng nào trong hồ sơ hành chính chứng minh rằng chúng đã thực sự rời đi.
Hoàng hôn buông xuống bến sông Cầu.
Vương Quang bước ra khỏi cổng Khảo Trắc Bắc Doanh. Gió chiều từ mặt sông thổi lên triền đê, mang theo mùi cỏ dại và phù sa. Cổ tay phải của hắn vẫn đau âm ỉ dưới lớp vải thô, nhắc nhở hắn rằng một đêm giữ ranh giới không phải chuyện có thể xóa bỏ chỉ bằng một giấc ngủ.
Hắn dừng lại trên đầu con dốc, nhìn về con đường liên huyện dẫn đến những làng quê vùng đồng bằng Kinh Bắc.
Ở đằng xa, đoàn xe bò chở những đinh phu sống sót từ Quỷ Môn đang lầm lũi lăn bánh trên đường đất đỏ. Họ vừa đi vừa trò chuyện, thỉnh thoảng vẫy tay chào những người quen ở ngã ba để chia đường về làng. Ánh nắng cuối ngày phủ lên lưng áo chàm bạc màu của họ một lớp vàng nhạt.
Những con người ấy đã trở về.
Ít nhất, đó là điều có thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Vương Quang định quay đi thì bước chân bỗng khựng lại.
Bóng những con bò và xe gỗ kéo dài trên mặt đường, rõ ràng dưới ánh nắng xiên. Những người phu đi bên cạnh cũng có bóng đổ dưới chân. Nhưng khi nhìn kỹ, hắn nhận ra bóng của một vài người trong đoàn không hoàn toàn bình thường.
Bóng của một người đàn ông đi gần cuối đoàn mờ nhạt hơn những bóng khác. Đến khi hắn bước qua khoảng đất trống trước rặng tre đầu làng, phần bóng tương ứng với đầu và vai dường như bị khuyết mất một mảng. Hình dạng còn lại chập chờn trên nền đất, như làn khói xám bị gió kéo lệch khỏi thân người.
Người đàn ông vẫn đi dưới ánh nắng, không hề nhận ra điều bất thường. Hắn còn quay đầu nói gì đó với người đi bên cạnh, rồi tiếp tục bước về phía cổng làng.
Vương Quang không gọi hắn lại.
Khoảng cách quá xa để kiểm tra. Ánh sáng đang tắt dần, mặt đường lẫn với bóng tre, còn hình dạng dị thường kia chỉ xuất hiện trong vài nhịp ngắn ngủi. Hắn không có vật chứng để xác định đó là hậu quả của hàn uế, một biến đổi trong bóng người hay chỉ là hiện tượng do ánh sáng và địa hình tạo ra.
Nhưng hắn đã nhìn thấy nó.
Và hắn biết mình không nên vội xem đó là một sai lệch vô nghĩa.
Trên giấy tờ, chuyến công vụ Quỷ Môn đã kết thúc. Những biên bản được đóng triện, những vật chứng được niêm phong, còn tình trạng của người mất tích vẫn được giữ nguyên cho đến khi có bằng chứng mới.
Ngoài con đường đất đỏ, đoàn người sống sót tiếp tục trở về làng. Tiếng bánh xe bò lăn qua những vũng đất khô, tiếng gọi nhau vọng lên giữa rặng tre, tất cả đều bình thường như bất kỳ buổi chiều nào khác.
Chỉ có những cái bóng dưới chân họ là không hoàn toàn giống nhau.
Vương Quang đứng yên cho đến khi đoàn xe khuất sau rặng tre. Sau đó, hắn quay về phía doanh trại, trong đầu đã ghi lại vị trí, thời điểm và hình dạng bất thường vừa quan sát được.
Hắn chưa biết điều gì đã xảy ra với những người sống sót. Càng chưa thể kết luận rằng thứ xuất hiện ở Quỷ Môn đã theo họ về tận nhà.
Nhưng nếu những cái bóng kia thực sự đã thay đổi, thì tai họa không còn bị giới hạn trong lòng vực.
Nó có thể đã vượt qua cổng làng cùng những người trở về.
Và lần này, không ai biết phải chờ đến khi nào mới có thể nhận ra người sống với kẻ đã không còn nguyên vẹn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.