Nhân Gian Có Màn

Chương 97: Đêm Giao Hoán

Đăng: 25/09/2026 18:52 3,595 từ 4 lượt đọc

Gió bấc rít từng cơn ràn rạt qua rặng thông đá sườn đông bến Bùi, thốc vào mặt người thứ sương muối mùa đông đỏ quạch như máu loãng hòa nước mưa.

Đêm ngày hai mươi hai tháng Chạp lạnh buốt đến mức nước bùn đọng trong các khe nứt cầu tàu bắt đầu đông cứng lại thành từng mảng nhớt dẻo quánh. Khúc bến sông chìm trong thứ ánh sáng vàng vọt, chập chờn của những ngọn đuốc dầu trẩu cắm dọc bờ cát. Mùi khói than củi ướt nồng nặc quyện chặt với mùi bùn chết tanh nưởi và mùi mủ rỉ ra từ vết thương của những phu thuyền bị đứt cáp quất gãy xương hồi sáng, tạo thành một bầu không khí ngột ngạt, tanh tưởi đến lợm giọng.

Trên bãi cát trước thềm Điếm tuần, hơn bốn mươi con người — phu kéo thuyền, quân áp mạn và con buôn mắc kẹt — ngồi túm tụm quanh hai đống lửa củi ướt. Ai nấy co ro trong manh áo tơi lá rách bươm, mặt cắt không còn giọt máu, mắt dán chặt ra mặt sông đỏ ngầu.

Ở đó, chiếc thuyền thứ mười ba bằng gỗ tạp đen sì vẫn cắm sào đứng sững giữa dòng nước xiết. Chữ “TRẢ NGƯỜI” bằng bùn đen trên mạn thuyền vẫn rỉ từng giọt nước đỏ nhờn nhợt, như một vết thương chưa bao giờ khép miệng.

"Điểm danh! Toàn bộ đứng dậy xếp hàng!"

Tiếng quát lạnh tanh của viên Đề lại xé toạc màn sương.

Hắn đứng cạnh mép sàn gỗ, lưng gù xuống trên chiếc áo chàm sẫm màu. Dưới ánh lửa bập bùng, khuôn mặt thanh tú của hắn trắng bệch như bột dong, sống mũi thon dài càng làm nổi bật đôi mắt một mí dài hẹp, ươn ướt và lạnh ngắt như mắt rắn. Mười đầu ngón tay khẳng khiu dính đầy vệt mực nho tím than của hắn lật soạt từng trang sổ bộ bìa xanh của Đốc Vận Ty.

Sau lưng hắn, Phó Đốc Vận Văn Trấn Uy đứng sừng sững như một pho tượng đồng. Vạt áo nẹp da hươu thuộc kỹ trên người hắn đã khô cứng lại vì bùn phù sa, đai da nạm bạc siết chặt lấy vòm ngực vạm vỡ. Đôi mắt màu hổ phách sâu hoắm của viên quan võ đỏ ngầu những tia máu; ngón tay cái bên tả của hắn liên tục xoay tròn chiếc nhẫn phỉ thúy to bản, miết mạnh vào những vết sẹo lồi do dây cáp sắt chém ngang mu bàn tay. Đôi lông mày rậm điểm sợi bạc chau chặt, râu quai nón đanh thép ôm sát quai hàm giần giật theo từng nhịp thở nặng nề.

Hạn chót giờ Thìn ngày mai đang bóp nghẹt cổ họng hắn. Mười một chiếc xà lan chở hàng vạn hộc thóc lương vẫn nằm bất động; canh ba đêm nay nếu không nhổ neo rời bến, lưỡi đao trảm quyết của triều đình sẽ giáng thẳng xuống cổ hắn và cả dòng họ.

Viên Đề lại nâng cuốn sổ lên ngang tầm mắt, chấm ngọn bút lông vào nghiên mực nho đặc quánh, cất giọng the thé đọc lớn:

"Đinh phu đội một: Trịnh Tam!"

"Có!" Một gã phu thuyền gầy gò đứng ở đầu hàng run rẩy đáp.

Ngọn bút lông quệt một vệt mực đen cạnh tên họ. Viên Đề lại lật sang trang tiếp:

"Trần Tứ!"

Một gã phu đò đứng ở hàng thứ hai, mặc áo tơi lá tơi tả, cất tiếng đáp:

"Có!"

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc tiếng người sống vừa dứt, một chuyện quái dị giáng xuống bãi bồi.

Từ sâu dưới làn nước sông Bùi đen ngòm ngoài xa, ngay tại vị trí cọc gỗ lim khắc chữ “MÔN” đang chìm ngập trong dòng nước đỏ, một âm thanh trầm đục, nghẹn đặc như tiếng người bị sặc bùn từ đáy sâu bỗng dội ngược lên:

“Có…”

Tiếng đáp thứ hai vang lên rõ mồn một. Âm sắc, độ cao, và cả cái giọng mũi khàn khàn đặc trưng của gã phu đò tên Trần Tứ đều giống hệt tiếng người thật vừa thốt ra trên bờ cát.

Toàn bộ bãi sông câm bặt trong tích tắc.

Gã phu đò Trần Tứ đứng chết sững, hai mắt trừng trừng nhìn ra mặt sông, hai hàm răng va vào nhau đánh bập bập, hai bắp chân mềm nhũn ra khiến gã suýt quỵ xuống bãi cát ướt.

Vương Quang đứng tựa nửa thân người vào thanh Thiết Xích Khảo Sát bên mép cầu tàu, con mắt trái nheo lại sắc lẹm.

Hắn không nghĩ đến ma quỷ. Bằng thói quen ghi nhận hiện trường đã ăn sâu vào tủy, Vương Quang lập tức đảo mắt quét qua toàn bộ khúc bến: Khoảng cách từ bờ cát ra đến chân cọc lim là mười hai trượng; gió bấc đang thổi bạt từ sườn đông sang sườn tây; chiếc thuyền tuần giang mũi nhọn neo cách đó năm trượng có be gỗ kiền kiền dày ba tấc... Hắn đang tìm kiếm một hiện tượng dội âm cơ học: Một khoảng rỗng trong vách đá? Một khoang thuyền trống đóng vai trò buồng cộng hưởng?

Nhưng mặt sông phẳng lì như gương đồng đen, không có vách đá nào chắn ngang hướng gió; chiếc thuyền tuần giang nằm ngược hướng âm thanh dội lại. Nguồn âm ấy không hề truyền đi trong không khí; nó phát ra trực tiếp từ lòng bùn đáy nước, xuyên qua mặt nước đỏ phù sa giáng thẳng vào màng tai con người. Lần đầu tiên, phép loại trừ vật chất của hắn chạm vào ngõ cụt.

"Trời ơi... Mẹ tôi... Mẹ tôi gọi..."

Một tiếng lẩm bẩm thất thần bỗng cất lên từ góc hàng phu thuyền.

Một gã phu đò lớn tuổi, tóc hoa râm, khuôn mặt ngây dại bỗng buông rơi chiếc bát mẻ đựng cháo hoa trên tay. Hắn không nhìn đám đông, hai mắt mở to dại đi nhìn trừng trừng vào khoảng nước đen kịt dưới mạn chiếc thuyền thứ mười ba:

"Mẹ tôi đang đợi dưới đò... Bà ấy bảo lạnh lắm, bảo tôi xuống đỡ bà ấy lên..."

Mười năm trước, chính tại khúc bến Bùi này, mẹ của gã đã bị lật thuyền chìm mất xác giữa mùa lũ lớn.

Gã phu già lảo đảo bước ra khỏi hàng, chân trần dẫm lên cát ướt, hướng thẳng về mép nước sâu hoắm. Đám bạn thuyền hoảng loạn xúm vào túm chặt lấy vạt áo tơi lá của gã, đè gã ngã dúi dụi xuống cát: "Tỉnh lại đi chú Bảy! Dưới sông làm gì có ai!" Nhưng gã phu già vẫn giãy giụa điên cuồng, miệng sùi bọt mép, mắt không hề chớp lấy một nhịp.

Nỗi kinh hoàng lan nhanh khắp bãi bồi. Những tên quân áp mạn lăm lăm ngọn mác trong tay nhưng mũi mác bắt đầu run rẩy; nhiều phu thuyền quỳ sụp xuống cát vái lạy mặt nước đen ngòm.

Viên Đề lại mặt trắng bệch, đánh rơi ngọn bút lông xuống mặt bàn gỗ. Hắn bước rón rén lại gần Văn Trấn Uy, đôi mắt một mí dài hẹp liếc nhìn chiếc thuyền thứ mười ba, rồi ghé sát tai viên Phó Đốc Vận, thì thào từng tiếng nham hiểm:

"Quan lớn... Tình thế này không thể theo lẽ thường được nữa. Trên mạn thuyền ma ghi rõ hai chữ 'TRẢ NGƯỜI'... Nước đã sụt rồi lại dâng, thằng phu nhảy sông chiều nay được vớt lên cũng nói dưới đáy đông người lắm... Rõ ràng khúc sông này đang đòi một cái giá."

Hắn nuốt nước bọt, thanh âm lạnh ngắt như dao cạo:

"Chiếc xà lan số ba đã đắm, mất ba ngàn hộc thóc. Giờ nếu trễ hạn ngày mai, cả họ quan lớn chịu tội trảm thủ. Hay là... bắt trói thằng con trai của thằng Lục Đinh phu trạm, cùng hai thằng phu đò bản xứ xóm Chài, nhét đá vào bụng rồi đẩy xuống nước... Cho sông Bùi nhận đủ người, ắt dòng nước sẽ yên cho thuyền lương nhổ neo!"

Văn Trấn Uy đứng im phăng phắc.

Bàn tay đeo nhẫn ngọc phỉ thúy của hắn ngừng xoay. Trong đôi mắt màu hổ phách vằn đỏ những tia máu, một cuộc giằng xé tàn khốc đang diễn ra: Một bên là bản án trảm quyết của triều đình và ba vạn hộc thóc lương cứu đói; một bên là đề xuất tàn độc nhưng có vẻ là lối thoát duy nhất mà một kẻ cùng đường có thể bấu víu. Sự tuyệt vọng trước chiếc thòng lọng trách nhiệm hành chính đã đẩy viên quan tướng đến bờ vực của một quyết định máu lạnh.

"Bắt người," Văn Trấn Uy gằn giọng qua kẽ răng, bàn tay phải đặt lên đốc thanh trường kiếm bọc da cá đuối: "Bịt miệng chúng lại. Làm gọn ngoài mép bệ đá."

"Tuân lệnh quan lớn!"

Bốn tên quân áp mạn mặc giáp sắt lập tức tuốt đoản mác ra khỏi vỏ, sải bước lao về phía góc chái kho muối — nơi gia quyến của Lục Đinh và đám phu xóm Chài đang ngồi co ro. Tiếng đàn bà khóc ré lên kinh hoàng.

KENG!

Một tiếng kim loại va chạm đanh gọn vang lên giữa màn đêm.

Thanh Thiết Xích Khảo Sát dài ba thước trong tay trái của Vương Quang cắm phập xuống mặt sàn gỗ nghiến ngay trước mũi chân của tên lính đi đầu.

Mũi thước sắt bằng thép nguội cắm sâu nửa tấc vào thớ gỗ, rung lên bần bật phát ra những tiếng u u lạnh lẽo. Vương Quang đứng thẳng người, dù bả vai phải nẹp chặt đang rỉ mủ buốt nhói và vạt áo chàm loang lổ vết máu khô, nhưng con mắt trái đen sâu hoang lạnh của hắn nhìn thẳng vào khuôn mặt Văn Trấn Uy:

"Dừng tay lại."

Văn Trấn Uy quắt mắt lại, rút soạt thanh kiếm ra nửa tấc:

"Vương Ký lục! Ngươi dám cản trở quân lệnh của Đốc Vận Ty?!"

"Hạ quan không cản trở việc vận lương," Vương Quang cất giọng rành rọt, từng chữ nặng như đá tảng nện xuống mặt sàn: "Hạ quan chỉ nhắc nhở quan lớn về điều luật của triều đình. Mạng người có tên trong sổ đinh hộ tịch do huyện nha quản lý. Bắt người trần thế ném xuống sông không có bất kỳ căn cứ thực nghiệm nào chứng minh dòng nước sẽ đổi, chỉ tạo thêm ba án mạng cố sát. Nếu việc này lọt vào tai ngự sử Đô Sát Viện, quan lớn không chỉ gánh tội trễ hạn quân lương, mà còn chịu thêm án tru di vì giết dân phi pháp!"

Hắn nhìn thẳng vào đôi mắt hổ phách đang bốc hỏa của Văn Trấn Uy:

"Quan lớn tưởng ném người xuống là giải quyết được chuyện? Nếu ném ba người xuống mà chiếc thuyền thứ mười ba kia vẫn không dời đi, quan lớn định lấy mạng ai để ném tiếp?!"

Văn Trấn Uy nghẹn lời. Lưỡi kiếm đang rút dở khựng lại giữa không trung. Lời lẽ của viên Ký lục không mang chút màu sắc đạo đức giả; nó đánh thẳng vào tử huyệt trách nhiệm hình danh và sự vô căn cứ của hành động giết người bừa bãi.

Gió đông rít qua những thân cọc lim đen sì ngoài bãi sông. Vương Quang đưa mắt nhìn ra mặt nước đỏ ngầu, trong lồng ngực hắn dấy lên một cảm giác dằn vặt buốt nhói.

Hắn nhớ lại lúc trưa, khi chính tay mình dùng thanh Thiết Xích Khảo Sát đo khoảng rỗng dưới chân cọc “MÔN”. Khi ấy hắn đã báo cho Văn Trấn Uy rằng nền bùn bên dưới có khoảng rỗng và việc kéo cọc có thể gây sạt lở. Nhưng hắn đã không phản đối đến cùng.

Nếu lúc đó hắn quyết liệt hơn, liệu sợi cáp sắt có đứt? Liệu chiếc xà lan chở thóc có lật úp?

Hay chính phép đo thực địa của hắn đã vô tình khiến viên quan vận lương tin rằng đây chỉ là một chướng ngại vật chất có thể dùng lực kéo bật? Và nếu thứ nằm dưới đáy nước kia vốn không phải một chiếc cọc chắn cát thông thường, mà chính hành động kéo giật của con người đã phá vỡ một trật tự cũ?

Hắn không biết. Lần đầu tiên, một kẻ chỉ tin vào thước đo và mắt thấy như Vương Quang bắt đầu nghi ngờ chính những kết luận cơ học của bản thân.

"Thầy... Thầy ơi..."

Một bàn tay thô ráp, ấm nóng bỗng khẽ giật vạt áo chàm sau lưng hắn.

Chu Bá Cửu nép sát bên cạnh, khuôn mặt chữ điền sạm nắng lấm lem bồ hóng đang tái mét. Gã kéo hé miệng chiếc gùi tre bọc chiếu cói trên lưng, để lộ chiếc hộp gỗ trắc đựng mảnh đá bát giác chữ “Trấn” nhặt được từ đống đổ nát của trạm tời Thác Khói đêm qua.

"Thầy nhìn cái này..." Chu Bá Cửu thì thào qua kẽ răng, ngón tay chỉ vào vết nứt dăm màu trắng đục chạy dọc thân chữ “Trấn”: "Lúc nãy... lúc tiếng chuông dưới nước gõ một tiếng, mảnh đá này trong hộp bỗng nảy lên một cái... Con nhìn cái hình bát giác của nó, thấy... thấy nó vừa vặn với cái lỗ khuyết trên mộng đá chân cọc 'MÔN' mà thầy đo ban trưa."

Vương Quang khựng lại.

Hắn cúi đầu, thò bàn tay trái vào đáy gùi, ngón tay miết lên bề mặt khô ráp của mảnh đá bát giác.

Tám cạnh đều đặn. Đường kính xấp xỉ một thước hai tấc. Độ dày ba tấc.

Hắn không biết mảnh đá này là bùa chú hay vật trấn. Nhưng cái rãnh khuyết dưới chân cọc đá ngầm có kích thước gần tương ứng với tám cạnh của nó. Nếu dùng đá chèn kín khoảng hở, về mặt cơ học nó có thể làm đổi hướng dòng nước đang xoáy và giảm rung động quanh miệng khối kim loại.

Có hiệu quả không? Dòng sông có chịu yên không?

Vương Quang hoàn toàn không biết. Nhưng đây là phép thử vật chất duy nhất hắn có thể làm ngay lúc này để giằng những mạng người vô tội ra khỏi lưỡi đao tuyệt vọng của Đốc Vận Ty.

Hắn quay phắt sang Văn Trấn Uy, cất giọng đanh thép:

"Quan lớn! Cho người chuẩn bị giàn tời gỗ và ròng rọc trên thuyền tuần giang! Đưa cho hạ quan một cuộn cáp gai bện dầu và bốn tên thợ lặn khỏe nhất!"

Văn Trấn Uy nhìn chằm chằm vào Vương Quang, rồi nhìn xuống mảnh đá bát giác trong tay hắn:

"Ngươi định làm gì?"

"Chèn thử khối đá này vào rãnh khuyết dưới chân cọc 'MÔN'. Đổi hướng dòng nước đang xoáy qua khe hẹp," Vương Quang đáp cụt lủn: "Nếu khớp đá chịu được lực nước, chấn động dưới đáy sông có thể giảm đi. Đó là việc duy nhất có cơ sở vật chất để thử trước canh ba."

Văn Trấn Uy nhìn đôi mắt kiên định của Vương Quang, rồi nhìn ra dòng nước đỏ ngầu đang cuộn sóng. Hắn biết mình không còn đường lui. Viên quan tướng nghiến chặt răng, vung tay ra lệnh:

"Chuẩn bị giàn tời! Đưa bốn tên thợ lặn giỏi nhất theo lệnh Vương Ký lục! Kẻ nào chậm trễ, chém!"

Nửa canh giờ sau.

Chiếc thuyền tuần giang mũi nhọn được đám lính tuần dùng sào tre neo chặt vào bờ đá sát bãi cọc lim. Trên mũi thuyền, một giàn tời bằng gỗ nghiến chắc nịch được dựng lên, dây cáp gai bện dầu trẩu to bằng cổ tay luồn qua hai con lăn bằng đồng thau, buộc chằng chặt quanh tám cạnh của mảnh đá bát giác.

Gió đông thổi thốc từng cơn buốt giá. Sương mù đỏ quạch bao phủ quanh mạn thuyền như một bức màn máu.

Vương Quang cởi bỏ chiếc áo chàm bên ngoài, chỉ mặc độc chiếc áo lót vải đay mỏng dính. Vết mổ nơi xương quai xanh bên vai phải được Chu Bá Cửu dùng vải sạch quấn chặt lại, nhưng dịch vàng và máu khô vẫn rỉ ra be bét.

Hắn bước xuống mép nước lạnh ngắt.

Khoảnh khắc dòng nước sông Bùi táp vào lồng ngực, một cơn co giật dữ dội lập tức xé toạc các thớ cơ của hắn. Nước sông lạnh đến mức cơn đau không còn nằm ở bề mặt da thịt mà chạy thẳng vào các khớp xương tủy, khiến hàm răng hắn va vào nhau bần bật, màng xám nơi mắt phải giật nảy lên từng hồi nhức nhối.

Vương Quang đưa thanh Thiết Xích Khảo Sát lên miệng, cắn chặt thân sắt nguội vào giữa hai hàm răng!

Vị tanh nồng của kim loại và vị mặn chát của máu ứa ra từ nướu răng giúp hắn giữ lấy một tia tỉnh táo giữa cơn buốt giá thấu xương.

"Thả tời!" Hắn khàn giọng gầm lên qua kẽ răng ngậm sắt.

Bốn tên thợ lặn bôi mỡ trăn nhảy xuống nước. Hai người giữ dây cáp định hướng hai bên, hai người còn lại dùng vai đội đáy khối đá. Trên boong, tám tên quân áp mạn dồn sức quay trục gỗ nghiến, sợi cáp gai căng phựt, từ từ hạ khối đá nặng gần trăm cân chìm sâu vào dòng nước cuộn đỏ.

Vương Quang ngụp đầu xuống làn nước bùn ngập ngụa.

Dưới đáy sâu, nước sông đục ngầu phù sa đỏ quạch. Qua lớp màng xám đục ngầu của con mắt phải, hắn mò mẫm thấy chân cọc lim khắc chữ “MÔN”. Khe nứt trên bờ đá ngầm đang há toang hoác, dòng nước xoáy quẩn quanh miệng chiếc chuông đồng cổ tạo thành một lực hút quẩn quanh chân cọc.

Vương Quang dùng bàn tay trái gân guốc ôm chặt lấy thân cọc lim, chân đạp vào gờ đá, hai mắt mở trừng trừng trong nước bùn cay xè. Hắn dùng thanh thước sắt cắm sâu vào rãnh mộng, làm điểm tựa dẫn đường cho khối đá đang chìm xuống.

Hai tên thợ lặn đội đá gồng cứng cơ bắp, hai người giữ dây ghì chặt góc nghiêng, hợp sức ép khối đá bát giác trượt theo thân thước sắt.

Một tấc... nửa tấc...

CẠCH!

Một tiếng va chạm cơ học khô khốc, nặng trịch vang lên từ đáy sâu!

Mảnh đá bát giác mang chữ “Trấn” sập ngập vào rãnh khuyết hoa thị trên bờ đá ngầm. Khối đá nặng gần trăm cân vừa khít đến mức dòng nước xoáy quanh miệng chuông lập tức bị đổi hướng, bùn cát đang hút vào khe nứt cũng chậm lại, dòng xoáy quanh chân cọc yếu hẳn đi.

Vương Quang cùng bốn tên thợ lặn ngoi đầu lên khỏi mặt nước, bám vào be thuyền tuần giang thở dốc từng ngụm lớn. Nước sông đỏ ngầu chảy ròng ròng từ mái tóc bết bùn của hắn xuống bờ ngực tím tái vì giá rét.

Và ngay khoảnh khắc khối đá khớp mộng, tiếng chuông đồng rền rĩ suốt từ chiều dưới đáy bùn... hoàn toàn tắt lịm.

Không gian bến Bùi bỗng chìm vào một sự tĩnh lặng đến rợn gáy. Tiếng nước xoáy sủi bọt biến mất; chỉ còn tiếng gió đông rít qua khe nứa và tiếng thở dốc đứt quãng của đám người sống trên thuyền.

Văn Trấn Uy đứng trên mũi thuyền tuần giang, thở hắt ra một hơi dài, bàn tay buông lỏng khỏi đốc kiếm:

"Tắt rồi... Tiếng chuông tắt rồi!"

Đám quân áp mạn và phu thuyền trên bờ cát bắt đầu ồ lên những tiếng thở phào nhẹ nhõm, ngỡ rằng việc chèn lại khối đá đã thực sự triệt tiêu được tai ương dưới lòng sông.

Thế nhưng, Vương Quang vẫn bám chặt tay vào be thuyền, mắt trái mở trừng trừng nhìn ra giữa dòng nước.

Trong lồng ngực hắn không hề có cảm giác của một kẻ vừa giải quyết được bài toán.

Hắn vừa dùng một thao tác cơ học chuẩn xác để dập tắt tiếng chuông. Nhưng tiếng chuông tắt đi không hề làm dòng sông hiền hòa trở lại; mặt nước sông Bùi vẫn phẳng lặng như một tấm gương đồng đen kịt, nuốt trọn mọi bóng đổ của con người.

Và ngay chính giữa khúc nước phẳng lặng chết chóc ấy, chiếc thuyền thứ mười ba đóng bằng ván tạp đen sì bỗng khẽ lắc lư một nhịp.

KẸT...

Một tiếng cọ xát của thớ gỗ mục vang lên khô khốc, xé toạc màn đêm tĩnh mịch.

Dưới làn sương mù đỏ quạch, cánh cửa khoang tối của chiếc thuyền thứ mười ba — nơi suốt từ sáng tới giờ vẫn đóng kín im ỉm — bỗng nhiên từ từ mở toang ra.

Một luồng ớn lạnh chạy dọc từ thắt lưng xốc thẳng lên đỉnh đầu Vương Quang:

Nếu tiếng chuông đồng dưới đáy bùn kia từ ngàn năm nay vốn không phải là một mối nguy hại cần dập tắt... mà chính là chiếc then cài đang cố báo động hoặc ghìm giữ thứ bên trong khoang thuyền kia thì sao?

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3