Chương 108: Sóng Tàn Bến Hát
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
114 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 114/114 chương
Cột nước phù sa đỏ ngầu dập mạnh vào chân tường thành Luy Lâu phát ra một tiếng nổ trầm đục, tựa như một cỗ xe đá tảng ngàn cân vừa lao thẳng vào vách đá ngầm.
Sức chấn động của dòng nước dội ngược từ khúc ngoặt làm toàn bộ bãi bồi ven sông Hát rung chuyển bần bật. Hàng vạn hộc bùn non bị con sóng dữ xới tung, bốc lên thành một lớp bụi nước buốt giá mịt mùng, tanh lợm mùi rong rêu đáy sâu và nồng nặc mùi phèn sắt chua loét. Dòng nước dồn toa không còn lối thoát qua vòm cống ngầm đã cuộn tròn lại thành một xoáy nước khổng lồ cao ngang ngực người lớn, chồm lên liếm láp chân đê, cuốn phăng toàn bộ lán trại dã chiến, chảo gang nấu chì và những thanh gỗ nghiến xẻ dở vương vãi trên bãi cát.
Vương Quang bị luồng gió buốt và áp lực của ngọn sóng tạt thẳng vào lưng.
Thân hình hắn chao đảo, đôi ủng da trâu ngập sâu trong bùn nhão không tài nào rút lên kịp. Nước sông đỏ quạnh cuộn trào dưới chân, kéo giật mép áo tơi của hắn chúi về phía dòng xoáy. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, một bàn tay thô ráp, chai sần như vỏ cây giật mạnh lấy quai gùi sau lưng hắn, lôi giật ngược về phía sau gò đất.
"Thầy ơi! Ôm lấy rễ cây!"
Chu Bá Cửu gào lên giữa tiếng nước sôi sùng sục. Gã thanh niên bến bãi một tay ôm chặt lấy thân một gốc đa ven bãi có bộ rễ nổi quá nửa trong bùn nước, một tay quàng qua nách Vương Quang, gồng toàn bộ cơ bắp cuộn tròn kéo giật hắn lên khỏi dòng xoáy phù sa đang gầm réo.
Cả người Vương Quang đập mạnh vào búi rễ đa xù xì bám đầy rêu nước.
Mấu gỗ mục thúc mạnh vào bả vai phải khiến miệng vết mổ rách toạc ra; lớp vải đay lót bên trong đẫm ướt mủ vàng và máu tươi, nhói lên một cơn đau buốt thấu tim gan. Nơi mắt phải, chiếc vòng tròn đồng tâm viền đen lạnh ngắt như có một chiếc đinh sắt ướp đá cắm sâu vào con ngươi, kéo giật các đường gân thái dương giần giật từng chặp. Tầm nhìn con mắt trái mờ đi một nhịp rõ rệt, chỉ còn lại những vệt bóng mờ ảo xám xịt.
Vương Quang nghiến chặt hai hàm răng vào mẩu rễ cau khô trong miệng đến mức bật máu tươi nơi kẽ nướu. Vị chát xè và hơi cay nồng của vôi cau xộc thẳng lên đỉnh đầu, giúp hắn ghìm lại cơn co giật đang chực bùng lên dọc theo sống lưng. Hắn không cúi xuống nhìn vết thương rách miệng; con mắt trái căng ra, xuyên qua màn bụi nước đỏ ngầu dán chặt vào miệng vòm cuốn cách đó chừng mười trượng.
Dòng nước lũ cuồn cuộn đổ dồn vào chân thành cổ, nhưng nó không thể tràn sâu vào lòng cống ngầm.
Khối gỗ dâu độc mộc nặng nề đóng chặt ngang vòm cuốn như một cái nêm khổng lồ mắc cứng ngang họng đá. Dưới sức đè dữ dội của dòng nước dội ngược, thân cây gỗ đen sì ngâm bùn lâu năm không hề suy suyển; các viên gạch vồ xám xanh của vòm cuốn cổ ken chặt lấy thớ gỗ, phát ra những tiếng rên rỉ ken két nhưng cấu trúc vòm vẫn trơ trơ tựa vách đá. Mặt đĩa đồng thau mười hai cánh sao gắn trên nắp gỗ chìm lỉm dưới làn nước đỏ, nhưng từng luồng bọt khí đen ngòm từ các rãnh đúc vẫn không ngừng sủi tăm lục bục, vạch thành những vệt xoáy tròn ngược chiều kim đồng hồ trên mặt sóng.
Cơn lũ dồn toa đến dữ dội, nhưng cũng hạ xuống theo một nhịp điệu rất nhanh.
Do cửa vòm ngầm đã bị khối gỗ dâu chèn kín, bức tường nước sau khi dập mạnh vào vách lũy đá của thành Luy Lâu liền dội ngược ra lòng sông, cuốn theo lớp bùn cát mặt bãi bồi rồi chầm chậm hạ thấp cao trình theo dòng chảy tự nhiên về phía hạ lưu.
Chỉ sau chừng nửa tuần trà, mặt nước sông Hát rút dần khỏi mép gò đất cao, để lại một hiện trường tan hoang và lạnh ngắt dưới màn sương đêm tím bầm.
Khắp bãi bồi ngập tràn một lớp bùn phù sa đỏ quánh dày tới nửa thước. Bốn thân cột lim của giàn tời gỗ nghiến gãy nát nằm ngổn ngang như xương của một con thuyền đắm trôi dạt vào bờ; hai lò rèn dã chiến bị nước cuốn trôi tro than, chỉ còn trơ lại những tảng đá kê bễ đen sì bốc khói mỏng khét lẹt mùi mỡ trâu cháy dở. Hơn hai trăm phu phen co ro trên dốc đê, quần áo rách bươm, mặt mày tái mét như người ngâm nước lâu ngày, không ai dám thốt lên một lời nào ngoài những tiếng thở dốc run rẩy vì giá rét.
"Đốt đuốc lên! Kiểm tra đê điều!"
Tiếng quát sang sảng của Huyện thừa Lê vang lên từ phía điếm tuần đầu bãi.
Viên Huyện thừa đứng trên mỏm đất cứng, vạt áo chàm sờn bạc ướt sũng bùn đất dính chặt vào đùi, nhưng sống lưng hắn vẫn đứng thẳng tắp như cột buồm. Chiếc túi da trâu đựng con triện đồng của huyện nha và cuốn sổ đinh màu vàng vẫn được hắn dùng cánh tay trái ghìm chặt bên sườn, không để một giọt nước sông nào thấm vào thớ giấy bản.
Đội trưởng Ti Phổ cùng mười mấy tên lính tuần mang đoản mác lập tức đốt lại những cây đuốc dầu trẩu bọc lồng kính giấy dầu. Ánh lửa đỏ quạch bùng lên, soi rọi mặt đất nhơ nhớp phù sa.
"Đặng Chủ bạ!" Huyện thừa Lê cất giọng khô khốc, ánh mắt quét qua bãi bùn lầy: "Cùng lính tuần điểm lại số phu phen trên đê! Ai bị nước cuốn, ai bị gãy chân gãy tay, ghi rõ từng người vào sổ dịch!"
"Tuân... tuân lệnh quan lớn!" Chủ bạ Đặng hai hàm răng va vào nhau lập cập, ôm chiếc tráp da cá đuối đã rách góc lật đật chạy đi gom đám phu dịch.
Huyện thừa Lê không dừng lại ở đó. Hắn quay ngoắt người, sải những bước chân nặng trịch trên lớp bùn nhão, tiến thẳng xuống dải lòng máng trơ đáy nơi cỗ gỗ dâu đang cắm phập vào vòm cống gạch. Đội trưởng Ti Phổ vội vã dẫn bốn tên lính mang mác sắt bám sát sau lưng để hộ vệ.
Vương Quang buông búi rễ đa, bước khập khiễng theo sau. Thanh Thiết Xích Khảo Sát trên tay trái của hắn dựng đứng, đầu nêm thép liên tục cắm xuống lớp phù sa trơn nhẫy để thăm dò độ lún của nền đất chân bãi bồi.
Thanh Diệp cũng từ trên gờ đất bước xuống. Tà áo tơi đen tráng nhựa đường của nàng rũ sạch nước mưa, nàng dừng lại cách Vương Quang đúng ba bước chân, đôi mắt dài hẹp khóa chặt vào mép vòm cuốn bằng gạch vồ xám xanh.
Mọi ánh mắt của toán người đều dồn về một điểm duy nhất dưới đáy lòng máng.
Khối gỗ dâu độc mộc dài gần hai trượng lúc này đã lộ ra một nửa thân gỗ đen sì, cắm nghiêng một góc chừng bốn mươi lăm độ chèn cứng họng cống ngầm. Bùn đỏ bám chặt vào từng thớ gỗ cổ thụ nứt nẻ; phiến đĩa đồng thau mười hai cánh sao ở nắp cỗ gỗ sau trận nước lũ bỗng phủ lên một lớp màng nhờn mỡ màu xám đục, bốc mùi tanh lợm nồng nặc.
Và ngay sát bên mép phiến đĩa đồng thau ấy, một thân xác người đang nằm úp sấp trên mặt gỗ.
Đó chính là Trần Tứ.
Gã không hề bị con sóng dữ cuốn trôi ra giữa dòng sông Hát.
Cả thân hình gầy guộc của gã dán chặt vào mặt nắp cỗ gỗ dâu. Hai bàn tay khẳng khiu, da thịt nhăn nheo như giấy ngâm nước của gã vẫn bấu chặt lấy hai mép đĩa đồng thau; mười đầu ngón khóa chặt quanh mép đĩa đồng, đầu móng cắm sâu vào khe tiếp giáp giữa thớ gỗ và kim loại.
Điều khiến đám lính tuần kinh hãi lùi lại phía sau chính là: Nơi hõm xương quai xanh bên phải của gã, chiếc thẻ chì hình bát giác đã bị sức giằng của dòng nước kéo bật lên khỏi da thịt chừng nửa phân. Từng sợi chỉ chàm màu xanh bạc căng cứng, đâm sâu xuyên qua da thịt, rỉ ra những giọt dịch màu đen sẫm quánh đặc, nhỏ tong tỏng xuống rãnh khắc của đàn chim Lạc bay ngược chiều kim đồng hồ trên mặt đĩa đồng.
Trần Tứ vẫn mở trừng trừng hai hốc mắt vàng vọt đục ngầu, nhìn thẳng vào tâm điểm ngôi sao mười hai cánh.
"Còn... còn sống không?" Đội trưởng Ti Phổ nắm chặt đốc đao, thì thào trong hơi thở lạnh buốt.
Vương Quang bước tới sát mép cỗ gỗ. Hắn không chạm tay trần vào người gã phu đò; mũi thước sắt thép nguội đưa ra, cẩn thận ấn nhẹ vào mu bàn tay tái mét của Trần Tứ.
Thịt da lạnh ngắt như một tảng đá ngâm đáy giếng mùa đông. Không thấy hơi thở phả ra trong làn gió bấc, cũng không cảm nhận được thân nhiệt tối thiểu của người sống. Thế nhưng, Vương Quang không thốt ra chữ "tử vong".
Là một kẻ từng làm việc với hồ sơ hình án ở huyện nha, hắn hiểu rất rõ quy tắc vật chứng: Một thân xác không còn hơi ấm nhưng các khớp cơ không hề có dấu hiệu trương phù hay mềm nhũn của người chết đuối; các ngón tay vẫn duy trì lực bấu chặt vào đĩa đồng theo một cách thức kỳ lạ. Hắn không có đủ căn cứ pháp chất để ghi nhận kẻ này đã chết, cũng như không thể khẳng định gã còn sống. Đó là một trạng thái lơ lửng giữa sự hiện diện vật chất và sự vắng mặt của sinh mệnh.
"Kéo hắn ra!" Viên Đốc Công Thủy Đạo từ trên bờ đê lật đật lội bùn chạy xuống, khuôn mặt béo phệ bóng nhẫy mồ hôi dù trời rét cắt da: "Mau chặt đứt mấy sợi chỉ chàm kia đi! Phải gỡ cái xác này ra thì ngày mai mới đóng cọc sắt gia cố giàn tời được!"
"Ai cho phép động vào?"
Tiếng quát lạnh băng của Thanh Diệp cắt ngang lời viên Đốc Công.
Nàng bước lên nửa bước, bàn tay thon dài rút từ trong bọc áo tơi ra một tấm lụa trắng tẩm sáp nguội, ném phủ lên trên thân chiếc thẻ chì hình bát giác đang rỉ dịch đen nơi cổ Trần Tứ:
"Sợi chỉ chàm này đâm xuyên qua thịt da, gắn liền với chiếc thẻ chì mang con dấu của nha môn. Nếu cắt bừa sợi chỉ lúc này, làm mất dấu vết trên thân xác và chiếc thẻ chì, Thủy Đạo Ty có dám đứng ra ký giấy chịu trách nhiệm trước Đô Sát Viện không?"
Viên Đốc Công rụt cổ lại, nghẹn họng không dám bước thêm một bước. Hắn biết rõ quyền hạn của Đô Sát Viện; một khi viên giám sát này đã viện dẫn trách nhiệm pháp lý, bất kỳ hành vi cậy phá nào cũng có thể bị quy vào tội tiêu hủy vật chứng án sự.
Huyện thừa Lê đứng chắp tay sau lưng, ánh mắt thâm trầm nhìn chằm chằm vào chiếc thẻ chì bát giác và dòng dịch đen đang rỉ xuống đĩa đồng. Là một viên quan cai trị địa phương lão luyện, hắn nhận ra sự việc này đã vượt xa khỏi phạm vi một vụ tranh chấp nạo vét luồng lạch thông thường.
Hắn quay sang Đội trưởng Ti Phổ, ban bố mệnh lệnh bằng giọng dứt khoát:
"Ti Phổ! Lập điếm canh dã chiến ngay dưới chân vòm cống! Cắt cử mười tên lính tuần khỏe mạnh nhất mang đoản mác và cung nỏ canh gác khối gỗ này suốt đêm! Cấm bất kỳ ai — kể cả người của Thủy Đạo Ty — tự tiện tiếp cận nếu không có thẻ bài của bản quan!"
"Tuân lệnh quan lớn!" Đội trưởng Ti Phổ cúi đầu nhận trát.
Huyện thừa Lê ngước mắt nhìn lên mặt đê lầy lội mịt mùng sương khói. Nơi đỉnh dốc, con ngựa trạm đen tuyền và bóng người mặc áo choàng lông quạ đen đã biến mất không một dấu vết từ lúc nào. Chỉ còn lại những vệt móng ngựa sắt in sâu hoắm vào nền đất sét đỏ, kéo dài hun hút về phía con đường dịch trạm dẫn sang mạn bắc phủ Quốc Oai.
Hắn siết chặt bọc da trâu đựng cuốn sổ đinh bên hông, quay sang Vương Quang và Thanh Diệp:
"Vương Ký lục, Thanh Diệp giám sát. Đêm nay gió bấc lớn, nước sông có thể dội lại bất cứ lúc nào. Mời hai vị vào điếm tuần ven đê. Bản quan có vài điều... cần đối chiếu trên mặt giấy trắng mực đen."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.