Nhân Gian Có Màn

Chương 92: Khoảng Trống Giữa Dòng

Đăng: 22/09/2026 10:24 3,077 từ 17 lượt đọc

Tiếng phèng la bằng đồng khua liên hồi đanh đục, xé toạc màn sương sớm ẩm mục đang là là phủ trên bãi bồi sông Bùi.

Trong chái kho muối, Vương Quang chống mạnh mũi thanh Thiết Xích Khảo Sát xuống nền đất nện, khó nhọc gượng đứng dậy. Lưng áo chàm của hắn dính bết vào da thịt; vùng da thắt lưng và hai lòng bàn chân bị muối rang làm bỏng rát, nhức nhối theo từng cử động, nhưng chính cái đau rát ấy ghìm chặt hai đầu gối hắn không bị khuỵu xuống. Hắn quấn chặt dải vải đay quanh vết cứa nơi lòng bàn tay trái, khẽ hất cằm ra hiệu cho Chu Bá Cửu:

"Mở then cửa nách. Ra bờ sông xem."

"Thầy... Thầy đi đứng còn chưa vững, ngoài kia phu đò đang nhốn nháo cả lên..." Chu Bá Cửu run rẩy níu tay áo hắn.

"Mắc cạn mười hai xà lan lương của quan phủ thì không còn là chuyện của riêng bến đò này nữa," Vương Quang khàn giọng, mắt trái nhìn đăm đăm qua khe liếp nứa: "Ở yên trong xó kho này, lát nữa lính tuần xét bến lùa từng gian phòng thì chẳng còn chỗ nào mà tránh. Đi."

Chu Bá Cửu không dám cãi, vội vã rút then gỗ nghiến, khoác chiếc gùi tre bọc chiếu rách lên vai, tay kia nắm chặt cán sào tre bịt sắt đi sát sau lưng bảo bọc cho Vương Quang.

Vừa bước qua ngưỡng cửa nách, một luồng không khí nồng nặc mùi bùn tanh và xác cá chết xộc thẳng vào sống mũi họ. Nhưng đè lên trên cái mùi tanh nưởi ấy là một thứ âm thanh quái đản, trầm đục và nặng nề, tựa như có một cái họng khổng lồ đang uống nước ừng ực dưới đáy sâu:

Ục... ục... ục...

Màn sương sớm mùa đông xám xịt như tro tàn trôi lờ đờ trên mặt bãi cát. Trước thềm Điếm tuần sông Bùi, hàng chục phu đò, dịch phu trạm vận và lái buôn muối tụ tập chen chúc trên mép bãi đá, người cầm đòn gánh, kẻ cầm sào tre, mặt cắt không còn một giọt máu, dán chặt mắt ra giữa dòng sông.

Vương Quang chống thước sắt, tập tễnh bước tới một gờ đá vôi nhô cao sát mép cầu tàu bằng gỗ nghiến, đưa mắt nhìn xuống.

Cảnh tượng trải ra trước mắt khiến lồng ngực hắn thắt nghẹn lại.

Dòng sông Bùi không hề rút nước theo lẽ thường.

Phía thượng lưu xa xa, nước lũ màu đỏ ngầu phù sa vẫn cuộn sóng ầm ầm đổ về. Phía hạ lưu cách bến đò chừng nửa dặm, mặt nước vẫn dập dềnh chảy về xuôi.

Thế nhưng ngay chính giữa khúc bến Bùi này, một khoảng sông rộng hàng chục trượng bỗng nhiên trống rỗng.

Nó không phải một bãi bồi cạn nước do phù sa bồi đắp, mà giống như một cái giếng đá khổng lồ vô hình vừa bị khoét thẳng xuống đáy sông. Nước lũ từ thượng nguồn cuộn đỏ xông tới mép hố liền bị một lực hút khủng khiếp kéo tuột thẳng xuống lòng sâu, biến mất tăm mất tích; nước từ phía hạ lưu cũng không hề chảy tràn ngược lại để lấp đầy khoảng trống, mà cứ ngưng đọng lơ lửng bên bờ mép đá, như thể có một bức tường vô hình ngăn cách dòng chảy của trần gian.

Từ lòng hố sâu hoắm trơ đáy bùn xám xịt ấy, tiếng nước bị nuốt chửng cứ vọng lên từng hồi khô khốc:

Ục... ục...

Mười hai chiếc xà lan lòng thuyền bằng gỗ kiền kiền — loại thuyền tải trọng hàng trăm tấn chuyên chở thóc gạo tiến kinh của triều đình — đang nằm nghiêng ngả quanh mép hố cạn. Đáy thuyền mắc cạn lún sâu vào bùn non, dây chằng hàng căng phựt, nhiều bao tải thóc trên boong bị xô lệch rách toạc, hạt gạo vàng ươm tràn ra bãi sình lầy dính bê bết nước bùn.

Vương Quang đứng chôn chân trên gờ đá. Hắn cúi người, nhặt một hòn sỏi vôi to bằng quả trứng chim dưới chân, vung tay trái ném thẳng xuống đáy khoảng sông cạn trơ bùn phía trước.

Hòn sỏi vạch một đường vòng cung trong màn sương muối, rơi thẳng xuống lòng hố sâu.

Không có tiếng bõm.

Không có tiếng sỏi va vào đá hay lún vào bùn. Hòn sỏi rơi vào khoảng không giữa lòng sông rồi biến mất như tan vào hư vô.

Khoảng sân bãi bồi chìm vào một sự im lặng đến rợn người.

Chừng ba nhịp thở sau—

Tõm.

Một tiếng nước rớt vang lên giòn tan, nhưng âm thanh ấy hoàn toàn không phát ra từ dưới lòng hố cạn trước mặt.

Nó vang lên từ một vũng nước đọng nhỏ trên bãi cát ngay phía sau lưng họ.

Vương Quang giật bắn người, xoay phắt nửa thân người lại. Bãi cát phía sau lưng hắn trống hoác, chỉ có sương muối lượn lờ bên chân tường Điếm tuần. Vũng nước mưa đọng trên cát khẽ gợn lên một vòng sóng tròn đồng tâm, rồi phẳng lặng trở lại.

Bên cạnh hắn, Chu Bá Cửu run lên bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập, chiếc sào tre bịt sắt trong tay chống không vững cắm nghiêng xuống cát.

"Thầy... Thầy ơi..." Gã phu trạm lắp bắp, giọng méo mó như sắp khóc.

"Làm sao?" Vương Quang gằn giọng.

"Có... có người vừa gọi tên thầy..." Chu Bá Cửu nuốt nước bọt cái ực, tròng mắt trợn trừng nhìn vào vũng nước sau lưng: "Lúc hòn đá rơi tõm một cái... có tiếng người thì thào ngay bên tai con..."

"Gọi thế nào?"

"Gọi đúng tên thật của thầy... Quang... Vương Quang..." Chu Bá Cửu ôm chặt lấy đầu, ngồi thụp xuống bãi cát: "Tiếng đàn ông... lạnh ngắt như ngâm dưới giếng sâu..."

Vương Quang siết chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát, lòng bàn tay trái rỉ máu buốt nhói. Hắn có thể đo khoảng cách, đo độ sâu, đo mực nước. Nhưng không thể đo được thứ vừa xảy ra.

Dưới chân gờ đá, hàng ngàn con cá chép, cá trê và lươn trạch bị hút cạn nước đang nằm quẫy đạp thoi thóp trên bãi bùn xám xịt.

Ánh mắt vốn quen ghi nhận dấu vết của Vương Quang bỗng khựng lại ở một vũng bùn nhỏ ngay dưới mũi ủng của mình.

Một con cá trạch to bằng cổ tay bị đá dăm đè rách mang, máu tươi từ mang cá rỉ ra từng giọt đỏ thắm. Nhưng những giọt máu ấy không hề chảy xuôi theo độ dốc của mặt bùn. Chúng tụ lại thành từng sợi chỉ đỏ mảnh như sợi tơ, dập dềnh trên lớp nước bùn nhờn nhợt, rồi từ từ bò ngược lên thân cá, chui ngược trở lại vào trong kẽ mang và khóe miệng của nó.

Vương Quang nín thở, khom người dùng đầu thanh thước sắt khẽ lật nghiêng thân con cá trạch lên.

Con cá đã chết cứng, vảy khô ráp xám ngoét. Thế nhưng, khi sợi máu cuối cùng vừa chui tọt vào trong kẽ răng, hai mép miệng con cá bỗng chầm chậm há toang ra.

Nó không sống lại, thân mình vẫn cứng đờ như một khúc củi mục.

Nhưng từ sâu trong cuống họng tanh nồng của cái xác con cá, một âm thanh nghẹn đặc phát ra rành rọt như tiếng người hấp hối thì thào qua kẽ răng:

“...lạnh...”

Âm thanh ma quái ấy vang lên chỉ một lần duy nhất rồi tắt ngấm. Miệng con cá trạch vẫn há toang hoác, trơ trọi giữa bùn lầy.

Vương Quang giật nảy người, lùi lại nửa bước, thanh thước sắt trong tay run lên bần bật. Hắn nhìn trừng trừng vào con cá chết, lồng ngực như bị ai đè một tảng đá ngàn cân. Hắn không hiểu thứ lực gì đang vận hành trong cái xác chết kia; hắn chỉ biết hiện tượng trước mắt không thể giải thích bằng độ dốc của bãi sông hay dòng nước còn sót lại.

"Trời ơi... Cọc... Cọc trồi lên hết rồi!"

Tiếng la hét thất thanh từ phía đám phu đò đầu cầu tàu lại bùng lên.

Dưới đáy lòng hố cạn vừa bị dòng nước cuốn khoét trôi sạch lớp cát đệm, một công trình cổ xưa bị chôn vùi hàng trăm năm dưới đáy sông Bùi đang lộ thiên toàn bộ.

Hàng trăm chiếc cọc gỗ lim bịt sắt đen sì, to bằng thân người ôm, cắm sâu vào nền đá ngầm theo một đường thẳng tắp cắt ngang dòng sông, nhô lên lởm chởm như một bức tường thành bằng cọc nhọn.

Trên đầu mỗi chiếc cọc lim đều có một rãnh khoét hình chữ Nhất, bên trong xỏ những sợi xích đồng mục nát xanh rì kết nối từng thân cọc lại với nhau. Và trên thân gỗ lim đen bóng đã bị nước bào mòn qua nhiều thế hệ, những nét khắc chữ Hán cổ sâu hoắm bỗng lộ ra dưới ánh sáng mờ đục của ban mai.

Chiếc cọc ngoài cùng gần mép đá khắc một chữ: “HẠN”.

Chiếc cọc kế bên: “KHẨU”.

Chiếc cọc thứ ba nằm giữa dòng: “MÔN”.

Hạn Khẩu Môn.

Vương Quang nhìn chăm chú vào ba chữ triện cổ gồ ghề rêu phong. Nhìn cách những mộng lõm ăn khớp với dầm ngang và xích đồng chèn chặt, hắn chỉ có thể đoán đây từng là một hệ thống ngăn giữ hoặc phân định một ranh giới nào đó đã tồn tại từ rất lâu dưới lòng sông.

Cách hắn vài bước chân, một ông lão chèo đò tóc bạc phơ của xóm Chài bến Bùi vừa nhìn thấy ba chữ trên thân cọc lim liền run rẩy buông rơi chiếc dầm gỗ, quỳ sụp hai gối xuống mặt đá vôi sắc nhọn.

"Lạy trời lạy đất... Không phải cọc giữ nước..." Ông lão lẩm bẩm, hai bàn tay chắp lại run lẩy bẩy: "Đây là cọc đóng cửa..."

Vương Quang bước tới một bước, khàn giọng hỏi:

"Ông lão biết nguồn gốc hàng cọc này?"

Ông lão chèo đò không dám ngẩng đầu lên, đôi môi tím tái mấp máy như người mê sảng:

"Cha tôi dặn... Từ đời ông cố truyền lại... Nếu một ngày thấy những đầu cọc này nổi lên hết khỏi mặt nước... thì tuyệt đối đừng nhìn xuống lòng sông..."

"Vì sao?" Vương Quang nheo mắt trái gặng hỏi.

Ông lão không trả lời. Ông ta vội vã lấy hai tay bịt chặt miệng mình lại, mắt trừng trừng nhìn xuống lớp bùn xám dưới chân.

Bởi vì ngay dưới lớp bùn nơi chân hàng cọc lim cắm sâu vào lòng đá ngầm, một âm thanh khô khốc bỗng vọng lên:

Cộc.

Một tiếng gõ đơn độc, nặng nề và đanh chắc y hệt tiếng gõ dưới nền trạm dịch Đèo Gió đêm qua. Rồi:

Cộc... Cộc... Cộc.

Ba tiếng gõ nối tiếp nhau, đanh và dứt khoát, dội ngược từ lòng sâu lên mặt đất bãi bồi.

Cả bãi cát Điếm tuần bỗng chìm vào một sự câm lặng nghẹt thở. Đám phu đò lùi lũi dạt về phía sau, không một ai dám ho he nửa lời.

"Tránh đường! Quân quan Đốc Vận Ty chấp pháp! Kẻ nào cản đường chém không tha!"

Một tràng quát tháo rền vang từ phía cầu tàu phá tan bầu không khí quái dị.

Toán lính tuần áp mạn mặc áo nẹp sắt màu chàm thẫm, đầu đội nón dấu sơn then của chiếc thuyền tuần giang mũi nhọn đồng loạt tuốt đoản mác ra khỏi bao, lưỡi mác sáng loáng phạt ngang không khí gạt phắt đám phu đò dạt sang hai bên.

Một chiếc thang gỗ bọc đồng được bắc từ mạn thuyền tuần giang xuống sàn cầu tàu.

Một người đàn ông trọn tuổi ngũ tuần chầm chậm bước xuống.

Hắn mặc trường bào màu lam sẫm bằng lụa dệt vân mây, bên ngoài khoác áo nẹp da hươu thuộc kỹ màu cánh gián, thắt đai da bò nạm bạc; ngực áo thêu hình đóa sóng nước cuộn chỉ bạc. Khuôn mặt vuông vức ngăm đen, đôi mắt sâu hoắm ánh lên vẻ sắc lạnh, mệt mỏi nhưng đầy sát khí của kẻ quen nắm quyền sinh sát trong tay. Bên hông hắn đeo thanh trường kiếm vỏ bọc da cá đuối, ngón tay cái bên tả luôn tì nhẹ lên đốc kiếm. Theo sát sau lưng hắn là một viên Đề lại áo chàm cầm cuốn sổ bộ dày cộm và bốn tên lính hộ vệ vác theo hòm gỗ bọc sắt.

Đó chính là viên Phó Đốc Vận phụ trách áp tải đoàn mười hai xà lan lương của Tổng Lương Đốc Phủ.

Viên Trưởng tuần bến Bùi cùng đám lại dịch địa phương lập tức quỳ rạp xuống nền cát ướt, đầu dán sát xuống mặt ván gỗ run lẩy bẩy:

"Bẩm... bẩm quan Phó Đốc Vận..."

Phó Đốc Vận không thèm liếc nhìn đám lại dịch dưới chân. Hắn bước thẳng ra mép sàn cầu tàu, nhìn mười hai chiếc xà lan chở đầy thóc gạo đang nằm bất động, nghiêng ngả bên bờ miệng hố cạn, hai hàng lông mày rậm rạp nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm giữa trán.

"Mực nước tụt thế nào?" Thanh âm của Phó Đốc Vận trầm đục, khô khốc như tiếng kim loại cọ vào đá.

Viên Đề lại cầm sổ bộ vội vàng cúi đầu bẩm báo:

"Bẩm quan lớn, nước ở khúc bến này bỗng nhiên bị hút tuột xuống một hố ngầm trơ đáy. Mười hai xà lan đều mắc cạn trên bãi cọc cổ. Đáy thuyền đã chạm đá ngầm, nếu cố tình dùng trâu kéo sẽ bục đáy đắm thuyền ngay tại chỗ."

Bàn tay đang tì trên đốc kiếm của Phó Đốc Vận siết chặt lại. Các khớp xương ngón tay gồ lên trắng bệch.

Áp lực đang đè nặng lên vai viên quan này là một bản án hành chính tàn khốc của triều đình: Mười hai xà lan này chở ba vạn hộc thóc lương thực vụ đông của ba huyện vùng thượng lưu, hạn chót phải cập bến Kinh kỳ trước ngày hai mươi ba tháng Chạp để kịp phát chẩn và làm lễ tế Giao. Nếu trễ hạn, trách nhiệm vận lương sẽ lập tức đổ xuống đầu viên Phó Đốc Vận. Chức vị, gia sản, thậm chí tính mạng đều có thể bị kéo vào một bản án thất trách nặng nề.

"Lệnh của ta," Phó Đốc Vận cất giọng lạnh tanh, từng chữ rành rọt đanh thép: "Phong tỏa toàn bộ bến đò sông Bùi từ giờ khắc này! Tất cả thuyền bè dân sự, thuyền buôn muối cấm tuyệt đối không được rời bến. Đội tuần đò lập danh sách kiểm đinh ngay tại chỗ. Bất kỳ kẻ nào vừa từ trên đỉnh Đèo Gió hay mạn Thác Khói đi xuống bến trong đêm qua đều phải giữ lại để thẩm vấn!"

Hắn quay sang viên Đề lại, ánh mắt tràn đầy vẻ quyết đoán cơ học của một viên quan thực vụ:

"Nước sông đang cuộn đỏ bỗng cạn trơ đáy trong một đêm, ắt có kẻ phá đê khoét lạch trên thượng nguồn làm chuyển dòng chảy. Phải tìm ra ngọn nguồn dòng nước tụt đi đâu, bằng mọi giá phải vét được một luồng lạch sâu trước giờ Tỵ để kéo đoàn thuyền lương qua bến!"

"Tuân lệnh quan lớn!" Viên Đề lại cùng toán lính tuần đồng thanh quát to, lập tức chia quân tỏa xuống bãi cát lập hàng rào giáo mác phong tỏa.

Đám đông phu đò hoảng loạn lùi lũi dạt về phía các góc kho muối.

Vương Quang vẫn đứng bất động bên gờ đá vôi. Hắn tựa nửa thân người bên phải vào vách đá để giảm bớt sức nặng đè lên vết mổ xương quai xanh, bàn tay trái chống thẳng thanh Thiết Xích Khảo Sát xuống nền đá, vạt áo chàm tàng thư lấm lem bùn vàng và máu khô bay phần phật trong gió bấc.

Ánh mắt sắc như dao cạo của Phó Đốc Vận lướt qua đám đông đang nhốn nháo quỳ lạy, rồi đột ngột dừng sững lại.

Ánh nhìn của viên quan cấp Phủ khóa chặt vào thân hình tàn tạ nhưng đứng thẳng của Vương Quang.

Hắn nhìn thấy vết máu khô loang lổ trên vai phải nẹp tre của Vương Quang.

Hắn nhìn thấy nếp áo chàm sờn rách mang quy cách riêng biệt của kẻ từng làm việc trong tàng thư lầu nha môn.

Và quan trọng nhất, đôi mắt của một viên quan chuyên trách công trình thủy vận lập tức nhận ra thanh thước sắt dài ba thước đang cắm trên mặt đá: Những vạch chia ly, phân sắc cạnh, dấu mộc kiểm định bằng đồng thau và độ nặng chuẩn mực của một thanh Thiết Xích Khảo Sát chỉ có ở những cơ quan trắc đạc cấp cao.

Phó Đốc Vận buông tay khỏi đốc kiếm, bước từng bước nặng nề qua sàn cầu tàu bằng gỗ nghiến, tiến thẳng về phía gờ đá nơi Vương Quang đang đứng.

Bốn tên lính hộ vệ áo nẹp sắt lập tức lăm lăm đoản mác bước theo sau, vây kín lối đi. Chu Bá Cửu sợ đến mức run rẩy lùi lại sau lưng Vương Quang, hai tay ôm chặt lấy quai gùi tre.

Phó Đốc Vận dừng lại cách Vương Quang đúng ba bước chân. Đôi mắt sâu hoắm của hắn quét từ thanh thước sắt lên vết thương rỉ máu nơi bàn tay trái quấn vải đay, rồi nhìn thẳng vào con mắt trái đang bình thản đối diện của Vương Quang.

Khí lạnh từ mặt sông cạn bốc lên tanh nồng.

Phó Đốc Vận cất tiếng, giọng nói trầm thấp nhưng nặng trịch như một bản cáo trạng đặt thẳng lên bàn cân:

"Ngươi mang thước sắt công xưởng, mặc áo chàm tàng thư... Ngươi là người của ai cử đến bến này trước khi dòng sông cạn nước?"

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3