Nhân Gian Có Màn

Chương 124: Người Không Có Tên Trong Sổ

Đăng: 07/10/2026 22:38 4,155 từ 23 lượt đọc

Tiếng trống điểm canh ba từ chòi vọng gác phía tây huyện thành Bùi Khê dội qua màn mưa phùn, buông từng tiếng thùng... thùng... thùng... đùng đục, nặng trịch rồi chìm nghỉm vào tiếng gió bấc rít qua các khe liếp.

Mưa đông ở vùng châu thổ không ầm ĩ như mưa rào mùa hạ, nó dầm dề, rây từng hạt li ti buốt nhói vào da thịt. Khắp sân Huyện nha nước ngập xăm xắp mặt gạch Bát Tràng, rác rưởi, lá mục và bọt bùn đỏ từ bến sông theo chân lính tráng dạt vào tận bậc thềm công đường, quánh lại thành một thứ váng trơn tuột, tanh nồng mùi phù sa chết.

Gian phòng Giá khố nằm kẹp giữa hồi đông của công đường và bức tường rào đá ong cao lút đầu người. Chỗ này bốn mùa không lọt một giọt ánh nắng, tường vôi xám xịt loang lổ những mảng nấm mốc hình da báo, bốc lên cái mùi ngai ngái quen thuộc của những xó xỉnh chứa giấy tờ mục nát qua nhiều triều đại. Trên chiếc bàn dài bằng gỗ mít sứt sẹo kê giữa phòng, bốn ngọn nến sáp ong cắm trên đĩa sắt gỉ đang cháy leo lét. Lửa nến gặp gió luồn qua khe cửa chớp cứ chao đảo ngả nghiêng, hắt những cái bóng vặn vẹo, dài ngoằng của mấy con người lên vách đá ẩm ướt.

Vương Quang ngồi ở góc sập lim cạnh bàn.

Ống tay áo bên phải của hắn xắn cao quá khuỷu, để lộ cẳng tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo mờ. Bàn tay từng bị khoét xương Chân Thư Bút mười chín năm trước lúc này trắng bệch ra như ngâm nước tro, năm đầu ngón tay co quắp lại thành hình móng chim, cứng đờ và run rẩy từng cơn mất kiểm soát. Khí lạnh ngấm sâu từ đáy xoáy bến Bùi đã đánh thức uế khí ẩn sâu trong tủy; từng thớ cơ chạy dọc từ mu bàn tay lên đến tận khớp vai phải giật giật liên hồi, nhức buốt như thể có ai lấy kìm sắt nung nguội mà bóp nghiến vào khớp xương.

Chu Bá Cửu quỳ một bên gối dưới nền gạch lạnh, hai bàn tay cáu bẩn bưng chiếc âu đồng đựng tro than củi xà cừ còn ửng đỏ, cẩn thận hơ cách cổ tay thầy mình chừng nửa tấc. Thằng bé chốc chốc lại phồng má thổi nhẹ cho lớp tro mỏng bay đi, để hơi nóng phả vào làn da tím tái:

"Thầy... ráng nhịn một chút. Hơi than này giữ ấm được bao nhiêu thì giữ, thầy đừng gồng cơ, gồng là gân nó rút thêm đấy."

Vương Quang nghiến chặt hai hàm răng, khóe miệng ngậm một mẩu rễ cau khô đen đúa. Vị đắng chát xộc thẳng lên cuống họng, hơi cay kích thích luồng nhiệt mỏng manh nơi đáy ngực giúp hắn giữ lại chút tỉnh táo cuối cùng giữa cơn đau thấu xương. Hắn hít sâu một hơi khí lạnh, gằn giọng qua kẽ răng:

"Siết thêm... quấn thêm ba vòng dây gai nữa. Ép chặt lấy khớp nối."

Chu Bá Cửu buông âu đồng xuống đất, vội vàng cầm lấy dải vải gai thô đã tẩm nước gừng sao nóng. Thằng bé luồn dải vải quanh cổ tay Vương Quang, dồn sức tì gối kéo mạnh. Sợi gai thô ráp thít chặt vào da thịt hằn lên những vệt đỏ bầm, dùng lực cơ học thô bạo để khóa cứng lấy khớp xương, ghìm cơn co giật lại thành những chấn động âm ỉ bên trong.

Vương Quang thở hắt ra một làn khói trắng mờ, trán rịn đầy mồ hôi lạnh dù toàn thân đang rét run cầm cập. Hắn tựa lưng vào thành sập gỗ lim, đưa bàn tay trái vụng về với lấy thanh Thiết Xích Khảo Sát đặt ngang trên đùi, ngón tay miết nhẹ lên sống thép nguội ngắt để định thần. Bàn tay phải của hắn giờ đây như một khúc gỗ chết quấn giẻ, nhưng ít nhất, các ngón tay đã thôi quắp lại.

Trên chiếc bàn gỗ mít, Thanh Diệp đang đứng khoanh tay, chiếc áo tơi tráng nhựa đường đã cởi ra vắt tạm lên lưng ghế, để lộ trường bào màu thiên thanh viền chỉ bạc của Đô Sát Viện. Ánh mắt nàng lạnh lẽo và sắc bén như sương muối đầu mùa, dừng lại trên hai chiếc hòm gỗ sơn then vừa được mở toang dưới sàn.

Bên trong hai chiếc hòm bốc lên mùi long não nồng nặc át cả mùi mốc giấy. Hàng chục tập sổ chỉ khâu bìa cật tre, giấy bản ngả màu vàng khè, mép giấy quăn queo vì ẩm nước lũ qua các năm nằm xếp lớp ngổn ngang.

Chủ bạ Đặng Tố quỳ sụp dưới đất, hai đầu gối bệt chặt xuống sàn gạch ẩm ướt, lưng còng rạp đến mức cái búi tóc củ hành chạm sát mép hòm gỗ. Lão già ngoài ngũ tuần mặc chiếc áo the thâm vá víu nơi cùi chỏ, hai bàn tay khẳng khiu như chân gà đang run lẩy bẩy lần giở từng tập sổ sách:

"Bẩm... bẩm Ngự sử đại nhân, bẩm Ký lục gia... Toàn bộ sổ công trình, sổ cấp phát phu dịch và trát điều động từ năm Bảo Thái mười lăm đến năm Bảo Thái mười tám của bến Bùi đều nằm ở đây cả ạ. Mười chín năm qua, nha môn trải qua ba đời Huyện lệnh, hai lần lụt lớn tràn vào tận sân giá khố, giấy tờ mủn nát nhiều phần... nhưng hạ quan thề có trời đất chứng giám, tuyệt đối không dám làm thất lạc một trang nào."

Huyện thừa Lê đứng nép bên cánh cửa nách, vạt áo the sũng nước mưa dán chặt vào chân, chốc chốc lại rút chiếc khăn vải điều ra chấm mồ hôi trán, giọng run run phụ họa:

"Phải đấy ạ... Đặng Chủ bạ coi sóc giá khố từ thuở còn là chân tả dịch chạy việc vặt, tính tình cẩn trọng có tiếng trong huyện. Chuyện năm Bảo Thái mười tám đã quá xa xôi, người cũ kẻ chết người về quê làm ruộng... xin Ngự sử minh xét cho nỗi khó khăn của nha môn địa phương."

"Bớt lời phân trần đi."

Thanh Diệp không thèm ngước mắt nhìn hai viên quan lại huyện, ngón tay trỏ đeo bao da thuộc màu nâu sẫm gõ cộc một tiếng đanh gọn xuống mặt bàn:

"Tách sổ sách ra làm ba phần. Thứ nhất: Sổ biên chế đinh dịch của trạm đò. Thứ hai: Bản cấp lương thảo công nhật. Thứ ba: Sổ chi dùng dự phòng của nha môn. Đặng Chủ bạ, tự tay ngươi lật, lật đúng tháng Bảy năm Bảo Thái thứ mười tám. Đọc to từng dòng mục."

Chủ bạ Đặng run rẩy vâng dạ, vội vàng rút chiếc kính mắt gọng sừng trễ tràng xuống sống mũi, run giọng lật mở cuốn sổ khổ dài mang tên Bùi Khê Giang Độ Dịch Đinh Sách. Tiếng giấy bản mủn mục cọ vào nhau rào rạo như tiếng lá khô vỡ vụn.

"Bẩm... bẩm đại nhân, đây là ngạch đinh trạm đò tháng Bảy năm ấy... Biên chế chính thức gồm mười hai người. Đội trưởng là Trần Văn Thao, đinh phu gồm mười một người ngụ tại ba xã dọc triền đê: xã Thượng Bùi có năm người, xã Hạ Bùi bốn người, thôn Trung Cát hai người... Đều là dân đinh chính ngạch, có hộ tịch rành rẽ, gánh vác việc kéo tời, chèo đò dọc, coi giữ thuyền công vụ..."

"Mười hai người này hiện giờ ở đâu?" Thanh Diệp cắt ngang.

Huyện thừa Lê vội bước lên nửa bước, khom lưng đáp: "Dạ bẩm, hai người già yếu đã qua đời vào các năm Vĩnh Khánh, mười người còn lại thì già cả thôi việc dịch, con cháu họ hiện nay vẫn đang chịu thuế đinh tại ba xã sở tại. Chiều nay khi bến đò sạt lở, mấy người con cháu ấy cũng có mặt trong đám đông ngoài bờ đê gào khóc đấy ạ."

Thanh Diệp quay sang nhìn Vương Quang.

Vương Quang khẽ lắc đầu, bàn tay trái của hắn đặt lên mép bàn, ngón tay gõ nhẹ từng nhịp:

"Không phải họ."

"Tại sao ngươi chắc chắn không phải mười hai người này?" Thanh Diệp hỏi.

"Làng xã vùng sông nước coi trọng mồ mả, họ hàng gắn kết chặt chẽ," Vương Quang cất giọng khàn đặc vì rễ cau khô chát: "Mười hai đinh trắc có gốc gác rõ ràng ở ba xã quanh bến đò, ngày ngày cày ruộng, tối về ngủ với vợ con. Nếu mười hai người này thực sự cầm hai lưỡi cưa thép tôi dầu lặn xuống đáy sông để cưa vào mắt xích neo đài cọc dâu, chuyện tày đình như thế không tài nào giấu kín suốt mười chín năm giữa một cái xóm đê chỉ có vài trăm nóc nhà."

Hắn đưa mắt nhìn vào cuốn sổ:

"Người địa phương làm công việc dưới nước có kiêng cữ của người địa phương. Thấy đài cọc dâu có lỗ mộng bát giác, họ sợ Thủy thần còn không hết, không kẻ nào dám đánh cược cả dòng họ để thò cưa sắt vào cắt then khóa. Kẻ dám làm chuyện đó phải là người nơi khác đến, làm xong là đi, hoặc... làm xong thì không bao giờ bước lên bờ được nữa."

Thanh Diệp gật đầu đồng tình. Nàng quay sang Chủ bạ Đặng:

"Mở Bản cấp lương thảo của trạm đò cùng thời điểm đó."

Chủ bạ Đặng lật tiếp tập sổ thứ hai. Mặt giấy bản ố vàng chi chít những cột số tính bằng phân, lạng và chữ ký tắt bằng mực tàu nhạt. Lão già rà ngón tay gầy guộc theo từng dòng:

"Quy chế trạm đò thời bấy giờ quy định... mỗi đinh phu ăn việc công nhật được nha môn cấp phát tám lạng gạo tẻ và hai đồng tiền dầu mỗi ngày. Từ mùng một tháng Bảy đến ngày mười sáu tháng Bảy... mỗi ngày xuất kho chín cân sáu lạng gạo cho mười hai người đội trạm đò..."

"Dừng lại." Mũi thanh Thiết Xích của Vương Quang đột ngột vươn ra, đè nhẹ lên góc trang giấy: "Đọc tiếp từ ngày mười bảy."

Chủ bạ Đặng ngẩn người, nheo mắt nhìn qua tròng kính méo mó, rồi giọng lão bỗng nhiên ngắc ngứ:

"Ngày... ngày mười bảy tháng Bảy: Xuất kho mười bốn cân bốn lạng gạo tẻ... Ba mươi sáu đồng tiền dầu. Người lĩnh: Đội phu giang độ."

"Ngày mười tám?" Thanh Diệp gặng hỏi, giọng nàng chùng xuống đầy vẻ nguy hiểm.

"Dạ... ngày mười tám: Mười bốn cân bốn lạng. Ngày mười chín: Mười bốn cân bốn lạng... Ngày hai mươi: Mười bốn cân bốn lạng... Đến ngày hai mốt tháng Bảy... vẫn là mười bốn cân bốn lạng gạo."

Chủ bạ Đặng nuốt nước bọt cái ực, trán lấm tấm mồ hôi dù gió lùa rét buốt. Lão nhìn chằm chằm vào những con số viết bằng mực tàu đã ngả màu xám xịt mà chính tay lão từng sao chép mười chín năm trước, như thể vừa nhìn thấy một đàn giòi bò ra từ trang giấy.

"Mười bốn cân bốn lạng," Thanh Diệp lạnh lùng nhẩm tính, ánh mắt lóe lên tia sáng sắc bén: "Mỗi khẩu phần là tám lạng gạo. Mười bốn cân bốn lạng chia cho tám... là mười tám suất ăn mỗi ngày."

Nàng cúi sát xuống mặt bàn, bóng của nàng trùm kín lấy cuốn sổ:

"Đội trạm đò chỉ có mười hai đinh trắc cố định. Tại sao từ ngày mười bảy đến ngày hai mốt tháng Bảy — đúng năm ngày trước đêm xảy ra sự cố vỡ kè — kho Huyện nha lại xuất đều đặn mười tám suất gạo mỗi ngày cho bến đò?"

Huyện thừa Lê run bắn người, vội xua tay lia lịa: "Bẩm... bẩm Ngự sử, chuyện này... có lẽ là mùa lũ nước lớn, Huyện nha điều động thêm dân phu từ các tổng lân cận sang hộ đê bến bãi chăng? Lúc nguy cấp, việc gia tăng nhân lực dằn bao cát, kéo tời là chuyện thường thấy ở mọi khúc sông mà!"

"Ngươi nghĩ bản quan chưa từng làm qua án đê điều sao?" Thanh Diệp cười khẩy, nụ cười khiến hai viên quan huyện lạnh toát sống lưng: "Dân phu điều động hộ đê khẩn cấp phải có trát triệu đinh của Huyện nha gửi thẳng về cho Lý trưởng, Xã trưởng. Đinh phu đi hộ đê ăn gạo của huyện phải ghi tên vào Sổ phụ sai dịch, có giáp hạt, có tên chủ hộ để cuối năm trừ vào ngạch thuế dung của xã. Bản quan vừa soát toàn bộ trát sai dịch của mùa lũ năm Bảo Thái mười tám. Không hề có một trát triệu đinh nào gửi về các tổng quanh bến Bùi trong suốt tháng Bảy!"

Nàng đập mạnh bàn tay bọc da xuống mặt gỗ mít:

"Sáu người này không qua cửa Xã trưởng, không có tên trong sổ hộ tịch, không có nguồn gốc làng xóm. Nhưng họ ăn gạo của huyện, ở tại trạm đò bến Bùi suốt năm ngày ròng rã! Họ là ai? Ai đưa họ vào trạm đò?"

Chủ bạ Đặng sợ đến mức dập đầu chan chát xuống nền gạch tráng men:

"Oan cho hạ quan! Năm ấy hạ quan chỉ là chân lại dịch chạy việc ngoài sân, sai đâu đánh đấy! Việc xuất gạo xuất dầu là do cố Chủ bạ tiền nhiệm và quan Huyện lệnh năm đó trực tiếp ký phiếu chi, hạ quan chỉ biết cân gạo giao cho phu trạm chứ nào dám ho he nửa lời!"

Vương Quang không nhìn lão già đang khóc lóc. Hắn ngồi tựa vào sập lim, bàn tay trái khẽ lật mũi Thiết Xích gõ nhẹ lên trang sổ:

"Sáu người ngoài biên chế ăn cơm trạm đò năm ngày. Ngày mười chín tháng Bảy, trạm đò lĩnh hai lưỡi cưa thép tôi dầu và bốn giũa sắt ba cạnh. Đêm hai mốt tháng Bảy, chiếc then đồng tám mươi cân biến mất, thành mộng dâu bị xô lệch, kè sạt lở."

Hắn ngước mắt nhìn Thanh Diệp, ánh mắt phẳng lặng đến mức đáng sợ giữa đêm đông:

"Sau đêm hai mốt tháng Bảy, khẩu phần gạo của trạm đò biến đổi thế nào?"

Thanh Diệp lập tức lật sang trang sau của cuốn sổ lương thảo.

Đến ngày hai mươi hai tháng Bảy: Cột số cấp phát đột ngột tụt thẳng từ mười bốn cân bốn lạng xuống trở lại đúng chín cân sáu lạng.

Mười hai suất gạo. Đúng bon biên chế cũ của mười hai đinh phu địa phương.

Sáu người kia biến mất.

Không có ghi chép giải tán dân phu. Không có phiếu thanh toán tiền công hồi hương. Họ biến mất khỏi bến Bùi Khê đột ngột và im lìm hệt như lúc họ xuất hiện vào ngày mười bảy.

"Họ không quay về làng," Vương Quang nói, giọng trầm đục: "Nếu là thợ lặn hay đinh phu được thuê mướn từ nơi khác đến để làm việc mờ ám, sau khi công việc đổ bể giữa chừng, kẻ chủ mưu hoặc là chi tiền thưởng hậu hĩnh để bịt miệng đuổi đi trong đêm, hoặc là..."

Hắn bỏ lửng câu nói, quay sang nhìn góc hòm gỗ còn lại:

"Mở cuốn Tuất Mai Tạm Chi Sách ra."

Huyện thừa Lê nghe đến bốn chữ "Tuất Mai Tạm Chi" thì hai đầu gối nhũn ra, phải vịn vội vào mép án thư mới không ngã quỵ. Đó là cuốn sổ ghi những khoản tiền chi từ quỹ đen của quan huyện, chuyên dùng để bồi thường cho các vụ tai nạn lao động chết người, đền bù hỏa hoạn, hoặc mua ván bọc chiếu chôn cất những tử thi vô thừa nhận trôi dạt vào khúc sông thuộc địa phận quản hạt.

Chủ bạ Đặng run rẩy lôi từ đáy hòm lên một tập giấy mỏng tang, chỉ khâu gáy đã đứt tung từng đoạn, mép giấy rách tơi tả. Lão cẩn thận lật từng tờ giấy bản ố vàng đầy những vệt ố màu cánh gián của nước mưa cũ.

Trang sổ ghi chép cuối tháng Bảy năm Bảo Thái thứ mười tám hiện ra dưới ánh nến sáp ong.

Mực tàu viết tháu, nét chữ nguệch ngoạc vội vã như thể người cầm bút đang run sợ trước một điều gì đó:

"Ngày hăm ba tháng Bảy. Xuất kho tiền dự phòng nha môn: Mười hai quan tiền kẽm, sáu cỗ ván tạp bọc chiếu cói, ba vò vôi bột. Chi cho việc chôn cất sáu người trôi sông dạt vào bãi cát hạ lưu bến Bùi. Ghi chú: Vô danh, không thân nhân nhận diện, thi thể biến dạng do va đập đá ngầm."

Mười hai quan tiền kẽm. Sáu cỗ ván tạp. Ba vò vôi bột khử uế. Chôn cất vào ngày hăm ba tháng Bảy — đúng hai ngày sau đêm đài cọc dâu Bùi Khê bị dòng xoáy ngầm xé toạc.

Căn phòng Giá khố bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng chết chóc. Tiếng gió bấc rít qua mái ngói nghe như tiếng ai oán than thở từ cõi u minh dội về.

Chu Bá Cửu đứng bên cạnh buột miệng thì thầm, giọng thằng bé run rẩy:

"Thầy ơi... vậy là sáu người ăn thừa gạo... chính là sáu cái xác bọc chiếu cói này ư?"

"Chưa đủ chứng cứ để khẳng định sáu thi thể vớt được ở bãi cát hạ lưu chính là sáu người ăn gạo trạm đò," Vương Quang dùng tay trái tì nhẹ lên thành Thiết Xích, đôi mắt phải với vòng đồng tâm khẽ co rút lại: "Nhưng xét về mặt hành chính: Kho huyện xuất hai lưỡi cưa thép cho trạm đò. Trạm đò đột ngột xuất hiện thêm sáu khẩu phần ăn ngoài sổ sách. Hai ngày sau, đài cọc gãy, then đồng mất, dòng xoáy xuất hiện, khẩu phần gạo lập tức tụt về số cũ. Và hai ngày tiếp theo, kho huyện chi tiền mua đúng sáu cỗ ván tạp để chôn sáu cái xác vô danh."

Hắn dừng lại một nhịp, nhìn vào mắt xích đồng đúc liền đặt trên tấm vải nhựa đường giữa bàn:

"Một mắt xích đồng dày hai tấc bị cưa dở ba phần. Nếu sáu người kia thực sự có liên quan đến việc này, số lượng của họ vừa đủ để tổ chức một công việc bí mật dưới chân đài cọc mà không cần kinh động đến mười hai đinh phu địa phương: người lặn thay phiên kéo cưa, người giữ dây neo ghìm thợ lặn, người đứng trên bờ kéo tời dằn đá."

Thanh Diệp nhìn hắn, ánh mắt phức tạp:

"Ngươi cho rằng họ là kíp thợ lặn cưa xích?"

"Ta cho rằng đó là một khả năng hợp lý nhất lúc này," Vương Quang lắc đầu, giọng dứt khoát: "Sáu người ngoài sổ xuất hiện đúng thời điểm. Hai lưỡi cưa được cấp ra đúng thời điểm. Sáu cái chết vô danh diễn ra đúng thời điểm. Ba chuỗi sự kiện này khớp nối với nhau về mặt thời gian và số lượng. Nhưng hiện giờ chúng ta chưa có chứng cứ vật chất trực tiếp để nối chúng lại thành một sự thật duy nhất."

Thanh Diệp không đáp lời hắn ngay.

Nàng vươn tay rút bản tấu trình về đê Bùi Khê năm Bảo Thái mười tám — văn bản chính thức gửi lên Bộ Công — đặt sóng đôi bên cạnh cuốn sổ Tuất Mai Tạm Chi.

Dưới ánh nến chập chờn, hai văn bản hành chính của cùng một nha môn, viết vào cùng một mùa lũ mười chín năm trước, hiện lên như một sự mỉa mai tàn khốc:

Một bên, dòng chữ son đỏ chót của quan Huyện lệnh phê duyệt gửi lên triều đình: 'Nước lũ thượng nguồn dâng cao đột ngột cuốn trôi chân móng kè, vật tư hư hao chìm đáy sông không thể trục vớt. May nhờ trời đất che chở, quan dân đồng lòng gia cố nên không có thiệt hại về nhân mạng'.

Một bên, hàng chữ mực tàu vội vã ghi trong sổ chi ngầm: 'Chi mười hai quan tiền kẽm mua sáu cỗ ván tạp chôn sáu thi thể trôi sông vô danh'.

Thanh Diệp nhìn chằm chằm vào hai dòng chữ ấy, các đầu ngón tay nàng siết chặt vào bao da đốc kiếm đến mức khớp xương trắng bệch ra:

"Một bên là sáu cái chết. Một bên là không có người chết."

Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn thẳng vào Vương Quang:

"Mười chín năm trước, người ta đã dùng sáu cỗ ván tạp và một dòng mực son cạo sửa để biến sáu sinh mạng thành một khoản chi không tên trong sổ sách. Quan phủ đóng kín hồ sơ, báo cáo triều đình bằng một bản tấu sạch sẽ không tì vết, rồi để mặc cho đài cọc dâu mục nát dưới đáy bùn suốt hai mươi năm."

"Vậy thì trước khi tìm xem ai là kẻ ký lệnh mang cưa xuống sông," Thanh Diệp nói tiếp, giọng nàng sắc lạnh như lưỡi dao trát: "Chúng ta phải tìm xem sáu người này rốt cuộc đã bị đưa đến Bùi Khê bằng con đường nào."

Vương Quang khẽ lắc đầu, ánh mắt hắn rời khỏi hai trang sổ, nhìn ra ngoài khoảng tối mênh mông của sân huyện nha:

"Họ chết ở đâu thì trang sổ này đã nói rõ: bãi cát hạ lưu bến Bùi. Cái chưa trả lời được là vì sao họ lại nhắm vào chiếc then đồng của đài cọc bát giác, và vì sao công việc cưa xích lại phải dừng lại ở độ sâu ba phần."

Hắn dừng lại, ngón tay cái bên tay trái miết nhẹ lên vết nứt nơi mép bàn gỗ mít:

"Điều khiến ta thấy bất thường từ nãy đến giờ không chỉ nằm ở sáu cái chết vô danh này. Mà ở chỗ: suốt từ chiều đến giờ, trong toàn bộ hồ sơ tu bổ kè bến Bùi của mười chín năm qua, không có lấy một dòng nào nhắc lại sự tồn tại của đài cọc dâu sau đêm vỡ kè."

Thanh Diệp khẽ nhướng mày: "Ý ngươi là gì?"

"Nếu hồ sơ không nói dối hoàn toàn," Vương Quang nói chậm rãi từng tiếng: "Thì bản đồ đê điều của bến Bùi Khê được vẽ lại sau năm Bảo Thái thứ mười tám... rất có thể đã có sự thay đổi."

Thanh Diệp lập tức hiểu ra điều hắn đang ám chỉ. Nàng quay phắt người lại, ánh mắt như hai ngọn lửa lạnh quét thẳng vào Chủ bạ Đặng:

"Sang phòng Địa bạ. Đem toàn bộ bản đồ đo đạc bến Bùi Khê từ đời Hồng Đức, đời Cảnh Hưng cho đến bản đồ hiện hành của triều đình ra đây."

Chủ bạ Đặng run bắn người, trán dập xuống đất: "Bẩm... bẩm Ngự sử, kho bản đồ huyện nằm ở Tàng Bản Tháp phía sau chùa huyện, đêm hôm mưa gió thế này..."

"Bản quan cho ngươi đúng một khắc," Thanh Diệp lạnh lùng cắt ngang, không để cho lão già có cơ hội thoái thác: "Nếu thiếu một tấm bản đồ địa bạ nào của bến Bùi, ngày mai bản quan sẽ cho niêm phong toàn bộ nha môn này để Đô Sát Viện vào cuộc thẩm tra."

Chủ bạ Đặng và Huyện thừa Lê hoảng hốt lúng túng vâng dạ rồi cuống cuồng giẫm chân lên nhau chạy vụt ra ngoài màn mưa đêm.

Căn phòng Giá khố chỉ còn lại ba người.

Gió bấc vẫn đập từng chặp vào mái ngói âm dương. Chu Bá Cửu lại gần gắp thêm một mẩu than đượm vào âu đồng, cẩn thận sưởi lại cổ tay cho Vương Quang. Vương Quang ngồi bất động, nhổ mẩu rễ cau đã nát vụn trong miệng vào chiếc đĩa sắt trên bàn.

Hắn cúi đầu nhìn thanh Thiết Xích kẹp bên hông.

Sáu con người không có tên đã biến mất khỏi sổ đinh. Giờ đây, hắn muốn nhìn xem trên những tấm bản đồ da dê phủ bụi của triều đình, liệu một công trình ngầm nặng hàng trăm tấn... có thể bị người ta dùng ngòi bút xóa sổ khỏi mặt đất hay không.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3