Chương 127: Hai Cái Tên Tống
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
133 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 133/133 chương
Trời sáng hẳn vào khoảng giữa giờ Thìn, nhưng khoảng trời phía trên triền đê Bùi Khê vẫn đùng đục một sắc chì ẩm mốc, trĩu nặng như vò tro tôi dở.
Mưa dầm đã ngớt, nhường chỗ cho những cơn gió bấc khô rốc thốc ngược từ mép lạch bãi bồi lên. Trên con đường đất đỏ từ xóm Tang Mộc dẫn ngược về huyện thành, bùn bắt đầu se mặt, quánh lại thành một thứ keo dẻo dính chặt lấy đế ủng trâu của Thanh Diệp và làm chiếc xe bò chở đồ trắc địa của Huyện nha nghiến ken két trên từng vệt sống trâu lồi lõm.
Vương Quang ngồi ở càng xe bò phía sau.
Mỗi cú nẩy của bánh gỗ bọc sắt qua ổ trâu đều truyền thẳng một lực xóc ngược lên sống lưng, dội vào bả vai phải một nhịp nhức buốt. Hắn ngậm chặt một mẩu gừng nướng khô rang nơi khóe miệng; vị cay nồng xộc thẳng lên sống mũi, giúp hắn giữ lại chút hơi ấm mong manh trong lồng ngực và ghìm cơn tê buốt đang cựa mình dọc theo vết sẹo nạo xương năm cũ. Bàn tay phải của hắn vẫn bị ba vòng vải gai thô siết chặt áp vào mạng sườn, nhưng bàn tay trái thì không hề ngơi nghỉ.
Hắn dùng một mẩu than củi nhặt từ bếp trấu của lão Cả Đoan, cẩn thận phác lại hình dáng mộng mang cá vát góc và bốn đường trượt xoắn ốc lên mặt trong của một mảnh mo cau khô. Từng đường vạch hình học dứt khoát, chuẩn xác theo tỷ lệ đo đạc thực tế của thanh Thiết Xích.
Chu Bá Cửu đi bộ bám sát mép càng xe, hai tay xốc lại quai chiếc hòm đồ nghề bọc da cá đuối:
"Thầy... về đến nha môn có cần bảo nhà bếp nấu thêm nồi nước lá lốt ngâm tay không? Trông mặt thầy xám ngắt ra rồi đấy."
"Nước lá lốt để chiều," Vương Quang không ngẩng đầu lên, tay trái vẫn gọt lại cạnh mẩu than: "Về đến nơi, việc đầu tiên là sang Lại phòng. Xem giấy tờ còn sót lại."
Thanh Diệp dong ngựa đi song song bên cạnh cỗ xe bò. Con ngựa trạm lông khoang của nàng bước từng bước nặng nhọc trong bùn dẻo, phì phò phả từng luồng hơi trắng qua cánh mũi. Nàng liếc nhìn những hình vẽ góc độ trên mảnh mo cau trong tay hắn, ánh mắt đăm chiêu nhưng không mở lời hối thúc.
Lời kể của lão thợ già Cả Đoan lúc bình minh chỉ là một nửa manh mối trôi nổi ngoài thực địa. Một người thợ mộc già sau gần hai mươi năm có thể nhớ vanh vách thớ gỗ, tiếng cưa sắt dưới mạn thuyền và luồng nước đen trào lên từ đáy xoáy, nhưng ký ức của lão không có tư cách pháp lý để định danh một viên chức triều đình. Muốn biết ai có thẩm quyền đưa cưa thép ra khỏi kho và ai có nghiệp vụ để hiểu về đường nước ngầm, chỉ có một nơi để kiểm chứng: những trang sổ sách còn sót lại trong nha môn.
Trước cổng Huyện nha Bùi Khê, lính tuần đinh đã bắt đầu dựng thêm rào tre để ngăn đám đông dân chúng quanh vùng tụ tập nghe ngóng tin tức.
Mười bảy đinh phu rơi xuống nước chiều qua vẫn bặt vô âm tín; mặt sông ngoài bến đò phù sa vẫn đỏ lòm, gầm rống dưới những đợt sóng xô bờ kè vỡ. Nhưng tại sân trong công đường, không khí tang tóc ngoài bến dường như bị chặn đứng sau cánh cổng gỗ lim đóng then cài.
Thanh Diệp tung mình nhảy xuống ngựa, vạt áo tơi bay phần phật. Nàng không bước vào công đường mà rẽ thẳng sang dãy nhà ngang phía tây — nơi đặt phòng Lưu trữ của Lại phòng và phòng Quản bạ địa phương.
Gian phòng Lại phòng sực nức mùi vôi ẩm và mùi giấy mục ngâm nước. Khác với sự tưởng tượng của người ngoài về một kho tàng lưu trữ ngăn nắp của nhà nước, thực tế nơi đây là một mớ hỗn độn của thời gian và thiên tai.
Huyện thừa Lê cùng viên Đề lại phụ trách hồ sơ — một người trạc bốn tuần, mặt rỗ, mặc áo vải the thâm sờn rách ở nẹp cổ — đang đứng lúng túng bên dãy giá gỗ lim kê sát chân tường. Dưới sàn gạch lát, ba chiếc rương gỗ dổi mở toang nắp, bên trong ngổn ngang những cuộn giấy bản bị mối gặm nham nhở, nhiều cuốn chỉ khâu đã đứt tung, các trang giấy dính bết vào nhau thành từng tảng cứng ngắc như bánh đa nướng gặp nước.
"Bẩm... bẩm Ngự sử đại nhân, bẩm Ký lục gia," Huyện thừa Lê rút chiếc khăn vải điều lau mồ hôi trán, giọng run rẩy: "Nhận trát lệnh điều tra quan tịch năm Bảo Thái mười tám, hạ quan đã sức cho Đề lại lục tung cả ba dãy giá... nhưng quả thực... quả thực nha môn không thể tìm thấy cuốn Hương Quan Bổ Dụng Chính Sách của mùa hè năm ấy."
Đôi mày lá liễu của Thanh Diệp khẽ nhướng lên, giọng nàng đanh lại:
"Mất sổ?"
Viên Đề lại vội quỳ thụp xuống đất, hai tay chắp ngang trán:
"Bẩm Ngự sử minh xét! Không phải hạ quan làm mất! Mùa thu năm Vĩnh Khánh thứ hai, một trận vỡ đê lớn ở ngã ba sông thượng lưu đã tràn vào tận gian phòng này, nước ngập ngang thắt lưng suốt bốn ngày đêm. Rất nhiều hòm sổ đinh, sổ quan ngạch đời Bảo Thái bị ngâm bùn mục nát. Những tập nào gỡ ra được thì nha môn sao chép lại thành biên mục tóm tắt, còn những tập mủn rã thành bột thì đành phải làm biên bản tiêu hủy theo lệ của Bộ Lại... Quyển bổ dụng chính ngạch năm ấy nằm đúng vào cái hòm bị ngập chân tường!"
Thanh Diệp bước tới trước dãy giá gỗ, đưa bàn tay bọc da thuộc quệt nhẹ lên một mép hòm. Lớp bụi xám pha lẫn cặn phù sa khô bong ra từng mảng.
Nàng không quát tháo. Là người của Đô Sát Viện, nàng hiểu rất rõ sự tàn nhẫn của thực tế hành chính cấp huyện: qua mười chín năm, với ba đời Huyện lệnh thay thế, hai trận lụt lớn và sự cẩu thả cố hữu của lại dịch địa phương, việc đòi hỏi một bộ hồ sơ quan chức nguyên vẹn, liền mạch từ thời trước là điều không tưởng. Hồ sơ thời tiền hiện đại không phải một kho dữ liệu bất biến; nó là vật chất mỏng manh, có thể mục rữa, biến mất hoặc bị thất lạc mà không cần bất kỳ một bàn tay âm mưu nào can thiệp.
Vương Quang bước vào phòng, tựa thanh Thiết Xích vào mép bàn gỗ kiền kiền. Hắn cúi đầu nhìn đống giấy tờ rách nát trong rương, nét mặt không hề có vẻ ngạc nhiên hay thất vọng.
"Không có sổ bổ dụng chính ngạch thì tìm các dấu vết hành chính gián tiếp," hắn cất giọng đều đều, bình thản giữa gian phòng ẩm mốc: "Một viên chức triều đình về nhận nhiệm vụ ở một bến đò biên trắc không thể chỉ xuất hiện trong một cuốn sổ duy nhất. Hắn phải ăn cơm, phải lĩnh lương đài, phải ký nhận khí giới và phải giao tiếp với các dịch trạm lân cận."
Hắn đưa mắt nhìn viên Đề lại mặt rỗ:
"Đem ba thứ này ra đây: Thứ nhất, Trấn Sơn Nam Tuần Ty Quan Ngạch Bạ — bản sao lưu của trấn gửi về huyện hàng năm. Thứ hai, Sổ tiếp nhận quan ấn của trạm dịch bến Bùi. Thứ ba, bản sao các công văn phối hợp của Thủy Đạo Ty cùng thời kỳ."
Viên Đề lại ngẩng phắt đầu lên nhìn Vương Quang, ánh mắt từ kinh ngạc chuyển sang kiêng nể. Lão nhận ra người thanh niên trẻ tuổi mang cánh tay quấn vải gai này hiểu quá rõ cách một bộ máy quan trường vận hành. Lão vội vàng bò dậy, lần mò vào chiếc rương thứ hai, lôi ra hai tập giấy bản khổ hẹp có nẹp tre gãy một góc.
"Có... những thứ này thì còn bản sao tóm tắt ạ!"
Tập giấy thứ nhất trải ra trên mặt bàn: Trấn Sơn Nam Tuần Ty Quan Ngạch Sao Lục.
Mặt giấy vàng khè vì khói sấy chống ẩm, nhiều chỗ nét mực bị nhòe nước nhưng những hàng chữ chân thư ghi chức danh bổ nhiệm vẫn còn đọc được.
Ngón tay trái của Vương Quang rà dọc theo cột chữ ghi mùa xuân năm Bảo Thái thứ mười tám:
"Tháng Ba. Khâm mạng bổ dụng cử nhân võ ban Tống Khắc Thiệu, người huyện Chân Định, sung chức Bùi Khê Tuần Kiểm sứ. Thống lĩnh hai mươi tuần đinh, chưởng quản trị an bến đò, kiểm soát thuyền tải và hiệp đồng thủy lộ."
Tống Khắc Thiệu.
Cái tên thứ nhất xuất hiện trên giấy tờ pháp lý.
Thanh Diệp rút từ trong tay áo ra tờ giấy can mà nàng đã cho đồ lại con dấu son đóng trên tờ lệnh xuất hai lưỡi cưa thép đêm qua. Nàng đặt hai bản cạnh nhau.
Dấu triện vuông mang bốn chữ Bùi Khê Tuần Kiểm trên lệnh xuất kho hoàn toàn trùng khớp với kích thước của con dấu cấp cho viên Tuần Kiểm này: cạnh vuông một tấc hai phân, nét chữ triện gãy góc cứng cáp. Và đặc biệt, ở góc dưới bên tả của con dấu có một vết sứt hình bán nguyệt nhỏ bằng nửa hạt vừng — vết tích của một lần va đập kim loại từng được ghi nhận trong biên mục kiểm tra ấn tín cuối năm.
Vết sứt khớp hoàn toàn.
Điều đó xác nhận: Con dấu dùng để ký xuất hai lưỡi cưa thép tôi dầu cho nhóm thợ lặn bí mật chính là con dấu nằm trong tay Tuần Kiểm Tống Khắc Thiệu.
"Người này hiện giờ ở đâu?" Thanh Diệp hỏi viên Đề lại.
Viên Đề lại lật tiếp sang cuốn sổ thứ hai — cuốn Dịch Trạm Ấn Khí Lưu Chuyển Bạ, nơi ghi chép việc bàn giao bằng sắc và ấn triện mỗi khi có quan viên thay đổi chức vụ:
"Bẩm Ngự sử... Hồ sơ cáo thụ chính thức của ông ta đã bị ẩm nát trong trận lụt năm Vĩnh Khánh, nhưng sổ trạm dịch còn ghi một dòng vắn tắt: Đúng ngày hăm ba tháng Bảy năm Bảo Thái mười tám — tức là đúng hai ngày sau đêm đài cọc dâu bị phá — trạm dịch bờ bắc nhận được con dấu đồng và một lá thư cáo bệnh của Tống Khắc Thiệu gửi lại. Thư xưng rằng trên đường tuần đê bị ngã ngựa chấn thương nặng, uất khí sinh chứng phong đàm, xin nộp lại ấn quan để về quê Chân Định dưỡng bệnh. Kể từ đó... không thấy triều đình có trát gọi lại, cũng không có ghi chép nào về việc ông ta quay lại Bùi Khê."
"Vừa ký lệnh xuất cưa ngày mười chín, đêm hai mươi mốt chân đài bị phá, ngày hai mươi ba nộp ấn xin thôi việc," Thanh Diệp nhìn chằm chằm vào dòng chữ mực nhạt, giọng nàng lạnh tanh: "Thời điểm khớp nhau đến từng ngày."
"Trùng khớp về thời gian, nhưng chưa đủ để định tội," Vương Quang khẽ lên tiếng, ngón tay cái miết nhẹ lên chuôi Thiết Xích.
Thanh Diệp quay sang nhìn hắn: "Ngươi thấy có chỗ nào chưa thông?"
"Một viên Tuần Kiểm cấp huyện như Tống Khắc Thiệu, nhiệm vụ thực tế chỉ là trị an bến bãi và áp giải đinh phu," Vương Quang phân tích chậm rãi: "Hắn có thẩm quyền để mở kho lấy hai lưỡi cưa thép, hắn có quyền lực để che giấu sáu thợ lặn ở trạm đò. Nhưng những thứ đó chỉ là điều kiện hành chính. Kẻ mặc áo chàm nói với lão Cả Đoan rằng: Đài cọc dâu cắm xuống là để ngăn nước không chảy về cống Luy Lâu. Một viên võ quan cấp thấp lấy đâu ra tri thức sâu sắc về cao độ và mạng lưới cống ngầm cổ xưa như vậy?"
Hắn lắc đầu:
"Tống Khắc Thiệu có thể là kẻ mặc áo chàm mang cưa xuống thuyền. Nhưng cũng hoàn toàn có khả năng hắn chỉ là một mắt xích thừa hành — ký một tờ lệnh xuất vật tư theo sự chỉ thị của một người khác có quyền lực hoặc chuyên môn cao hơn hắn. Việc hắn nộp ấn bỏ trốn ngay sau tai nạn có thể là vì hắn dự phần vào vụ việc, nhưng cũng có thể đơn thuần là nỗi sợ hãi của một viên quan nhỏ khi nhận ra mình vừa bị lợi dụng để gây ra một thảm họa vỡ chân đê."
"Vậy còn người thứ hai?" Thanh Diệp hỏi tiếp.
Vương Quang không đáp lời ngay. Hắn đưa mắt ra hiệu cho Chu Bá Cửu. Thằng bé hiểu ý, vội mở ngăn đáy của chiếc hòm đồ nghề trắc địa, lấy ra một mảnh vải lụa điều bọc kín đặt lên mặt bàn.
Lớp lụa mở ra.
Tấm thẻ bài bằng kim loại màu xám xỉn, mép thẻ bám đầy rỉ khoáng chất và bùn đen ngấu vớt lên từ chân cống ngầm Luy Lâu hiện ra dưới ánh sáng ban ngày.
Ba chữ triện khắc chìm:
TỐNG HỮU TRIỀU.
Và góc dưới là bốn chữ chức danh: Thủy Đạo Hành Trình.
"Đề lại," Thanh Diệp chỉ tay vào tấm thẻ bài kim loại: "Tìm trong các bản sao công sai của Thủy Đạo Ty xem năm Bảo Thái mười tám có ai mang tên này không."
Viên Đề lại nhìn thấy tấm thẻ bài thì rụt cổ lại, đôi bàn tay run rẩy lật tìm tập công văn phối hợp giữa Huyện nha và Thủy Đạo Ty mùa hè năm ấy. Sau một hồi lục lọi giữa những trang giấy mủn mép, ngón tay lão dừng lại ở một tờ trình sao lục:
"Bẩm... bẩm có! Trong danh sách đoàn khảo trắc của Thủy Đạo Ty phái về bến Bùi đo đạc độ dốc lòng sông vào tháng Sáu năm ấy... có tên Trắc thủ ngoại ngạch Tống Hữu Triều, người huyện Chân Định!"
Lại là người huyện Chân Định.
"Ghi chú về người này thế nào?" Thanh Diệp gặng hỏi.
"Dạ... Tờ trình của Thủy Đạo Ty gửi sang huyện vào hạ tuần tháng Bảy ghi rằng: Đêm hai mươi tháng Bảy — đúng một đêm trước khi đài cọc dâu bị phá vỡ — trắc thủ Tống Hữu Triều trong lúc đi thuyền đo mực nước đêm tại ngã ba sông thượng lưu thì gặp sóng lớn lật thuyền mất tích, thi thể không tìm thấy. Thủy Đạo Ty đã lập biên bản tử tuất gửi về nguyên quán."
Gian phòng Lại phòng chìm vào một khoảng im lặng ngột ngạt. Tiếng gió bấc rít qua các chấn song gỗ nghe khô khốc và buốt giá.
Hai người mang cùng một họ. Cùng xuất thân từ huyện Chân Định. Cùng có mặt tại lưu vực sông Bùi vào mùa lũ năm Bảo Thái thứ mười tám.
Một người nắm giữ quyền lực hành chính thực địa tại bến đò, có con dấu để xuất kho cưa thép (Tống Khắc Thiệu). Một người nắm giữ nghiệp vụ khảo trắc thủy đạo, hiểu biết về độ dốc đáy sông và dòng chảy ngầm (Tống Hữu Triều).
Đêm hai mươi: Tống Hữu Triều được báo cáo là "chết đuối mất tích" ở thượng lưu. Đêm hai mươi mốt: Một kẻ mặc áo chàm mang thẻ bài chữ Tống dẫn sáu thợ lặn xuống cưa mắt xích đài cọc dâu. Đêm hai mươi ba: Sáu thi thể thợ lặn dạt vào bãi cát, Tống Khắc Thiệu nộp ấn trốn biệt tăm.
"Hai cái tên," Thanh Diệp cất tiếng, ngón tay siết chặt lấy đốc kiếm: "Một người chết trên giấy tờ trước khi biến cố xảy ra, nhưng thực tế thi thể lại bị xích chân chôn vùi dưới cống Luy Lâu suốt mười chín năm. Một người bỏ trốn trên giấy tờ sau khi biến cố xảy ra. Kẻ mặc áo chàm mang thẻ bài chữ Tống trên thuyền lão Cả Đoan... rốt cuộc là kẻ đã 'chết', hay là kẻ đã 'trốn'?"
Nàng quay sang nhìn Vương Quang, trong mắt nàng ánh lên sự sắc bén của một quan chức tư pháp muốn truy nguyên đến tận cùng danh tính thủ phạm:
"Có cần phát trát hỏa tốc sức cho phủ Chân Định lùng bắt Tống Khắc Thiệu không? Mười chín năm trôi qua, nhưng một kẻ mang án bỏ trốn với con dấu tuần kiểm sứt góc không thể biến mất hoàn toàn khỏi sổ hộ tịch quê nhà."
"Không phát trát," Vương Quang dứt khoát lắc đầu.
Thanh Diệp hơi nhướng mày: "Tại sao? Ngươi không muốn biết kẻ mặc áo chàm là ai sao?"
"Tìm được Tống Khắc Thiệu thì giải quyết được gì lúc này?" Vương Quang nhìn thẳng vào mắt nàng, giọng hắn trầm tĩnh và lạnh lùng: "Cho dù bắt được hắn, hay thậm chí chứng minh được hắn chính là kẻ đứng trên thuyền năm đó... thì chiếc then đồng tám mươi cân có quay trở lại lỗ mộng bát giác không? Mười bảy đinh phu rơi xuống nước chiều qua có sống lại được không?"
Thanh Diệp im lặng. Nàng nhìn hắn, chờ đợi một lời giải thích thấu đáo hơn.
Vương Quang dùng tay trái đẩy nhẹ hai tập sổ sang một bên, để lộ mặt bàn gỗ trống trải:
"Mục đích của chúng ta ở Bùi Khê không phải là phá một vụ án mạng mười chín năm trước để bắt một bóng ma đền mạng. Việc của Đô Sát Viện và Khâm Thiên Giám lúc này là trả lời ba câu hỏi thực tế:
Thứ nhất: Kết cấu đài cọc dâu dưới lòng sông hiện tại còn giữ được bao nhiêu phần chịu tải? Dòng nước ngầm dưới đáy có nguy cơ khoét rỗng chân đê Bùi Khê trong mùa lũ này hay không?
Thứ hai: Báo cáo cũ của quan phủ năm Bảo Thái mười tám — báo cáo khẳng định 'lũ lớn cuốn trôi then chốt' — sai lệch ở mức độ nào? Chúng ta cần biết mức độ sai lệch ấy để viết lại phương án hộ đê, ngăn không cho các đời quan sau tiếp tục đổ đá đè bẹp miệng cống ngầm.
Và thứ ba: Chúng ta phải biết dừng lại ở đâu. Biết đủ để gia cố bờ kè, biết đủ để phong tỏa vùng xoáy hiểm, biết đủ để cứu sống những người dân đinh đang đứng trên mặt đê. Còn chuyện cống Luy Lâu nối đi đâu, kẻ áo chàm nhận lệnh từ ai... đó là những thứ vượt quá thẩm quyền và năng lực hiện trường của chúng ta lúc này. Càng đào sâu vào những thứ chưa hiểu, chúng ta càng dễ làm sụp đổ những gì còn sót lại."
Thanh Diệp nhìn sâu vào đôi mắt mệt mỏi nhưng kiên định của người thanh niên trước mặt. Nàng khẽ thở hắt ra một hơi, bàn tay buông lỏng khỏi đốc kiếm:
"Ngươi nói đúng. 'Vá Màn, không truy tận cùng'. Phần việc của Đô Sát Viện sau này, bản quan sẽ tự có tấu trình riêng về Kinh sư để truy cứu trách nhiệm của Thủy Đạo Ty. Còn hiện tại ở Bùi Khê, chúng ta làm phần việc kỹ thuật của ngươi. Vậy để biết phải xử lý cái đài cọc thế nào, ngươi cần dữ kiện gì tiếp theo?"
Vương Quang cúi đầu nhìn dải mo cau vẽ hình đài cọc đặt trên đùi. Mắt phải hắn khẽ giật một nhịp buốt rát:
"Lời kể của lão Cả Đoan nói rằng: Đêm hai mươi mốt năm ấy, khi luồng nước ngầm đen ngòm phun lên và sáu thợ lặn bị cuốn mất tích, nước sông trên mặt chưa hề dâng lũ. Nhưng báo cáo của Huyện nha gửi lên triều đình lại ghi: 'Đêm hai mươi mốt, lũ lớn thượng nguồn đổ về cuốn trôi chân móng'."
Hắn ngước mắt nhìn viên Đề lại mặt rỗ:
"Đem Nhật trình tuần giang và Trạm báo thủy trình của bến Bùi trong tháng Bảy năm Bảo Thái mười tám ra đây. Ta muốn biết vào cái đêm chiếc then đồng biến mất... đỉnh lũ thực tế từ thượng nguồn đổ về bến Bùi Khê vào giờ nào."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.