Chương 132: Tay Trái Cầm Thước
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
133 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 133/133 chương
Tiếng kẻng đồng điểm giờ Mão vang lên từ chòi gác cổng Bắc Doanh, đùng đục gõ vào màn sương muối đặc quánh đang bao trùm khu doanh sở ngoại thành.
Gió bấc sau đêm đông chí khô rốc và buốt giá, lùa qua các khe liếp cửa chấn song. Dưới mái ngói liệt, những giọt sương đọng nơi máng xối tre đông thành từng dải mỏng, chốc chốc lại rụng xuống rãnh gạch vỡ bên thềm một tiếng tách khô khốc.
Vương Quang tỉnh giấc từ trước khi tiếng kẻng đầu tiên buông xuống.
Hắn nằm trên chiếc chõng tre ọp ẹp, lưng dán chặt vào tấm chiếu cói đã sờn rách nẹp viền. Toàn bộ nửa thân trên bên phải của hắn nặng trịch, dại đi trong một khối cơ cứng đờ từ bả vai kéo xuống tận đầu ngón tay.
Hắn khẽ nhích bả vai phải. Vết sẹo nạo xương năm cũ nhói lên một nhịp quen thuộc, âm ỉ rút dọc theo thớ cơ cẳng tay. Bàn tay phải vẫn co quắp, năm ngón tay cứng đờ khép vào lòng bàn tay, các khớp đốt xám xịt vì lạnh. Cơn sốt dữ dội đã lui, nhưng sự mất kiểm soát của cơ bắp thì trần trụi và lạnh lùng.
Vương Quang khép hờ mắt, chậm rãi điều tiết hơi thở.
Hắn hít sâu qua mũi trong bốn nhịp đập nơi cuống họng, dẫn luồng khí lạnh nén sâu xuống bụng dưới. Giữ lại đó bốn nhịp. Trong bốn nhịp nín hơi, hắn ép tâm ý chìm xuống hạ tiêu, gom chút dương khí còi cọc còn sót lại nơi đan điền, nén chặt lại để ghìm cơn run rẩy đang chực bốc lên mang tai. Rồi hắn thở ra thong thả qua kẽ răng đúng bốn nhịp.
Đốm nhiệt mỏng manh vừa tụ lại râm ran chạy dọc theo sống lưng, tạm thời đẩy lùi cảm giác tê cóng đang bám chặt lấy nửa thân người.
Bên cạnh chõng, Chu Bá Cửu vẫn vùi đầu trong tấm chăn chiên, hơi thở đều đặn và nặng nhọc sau hai ngày dầm mưa lội bùn.
Vương Quang không gọi thằng bé. Hắn dùng cùi chỏ tay trái chống xuống mặt dát tre, chậm rãi nghiêng người ngồi dậy. Mất đi sự phối hợp của cánh tay phải, trọng tâm cơ thể hắn lệch hẳn về một bên; khi bàn chân phải chạm xuống nền đất lạnh, hắn phải mất vài nhịp thở mới đứng vững.
Hắn với tay trái lấy chiếc áo bông trần cũ khoác lên vai, bước ra bậc cửa đất.
Ngoài sân nện của Bắc Doanh, hơn hai mươi trắc thủ trẻ tuổi thuộc khóa huấn luyện ngoại ngạch đã tập hợp thành hai hàng dọc dưới sự chỉ huy của một viên Giáo thụ trắc địa. Đám thanh niên mặc áo vải thô màu chàm, ống quần xắn cao, hơi thở phả ra từng luồng khói trắng mù mịt giữa khoảng sân giá rét.
"Mốc một... ngắm thẳng cọc tiêu bờ bắc!" Tiếng viên Giáo thụ hô đanh gọn, át cả tiếng gió bấc rít qua rặng nhãn: "Cầm thước đồng bằng tay thuận, cùi chỏ khóa chặt vào mạng sườn! Thước chúc đầu là số đo sai nửa tấc, thước lệch trục là đào mương lệch cả trượng!"
Tiếng chân dập dồn và tiếng lách cách của những thanh thước đồng va chạm vang lên rộn rã.
Vương Quang tựa lưng vào mép cột hiên vách đất, lặng lẽ nhìn đám trắc thủ tập luyện.
Hắn nhìn cách người trắc thủ đi đầu cầm thước: ngón tay cái tì quá cao, trọng tâm thanh thước hơi nghiêng sang phải chừng hai phân; khi gió thổi tạt ngang mặt sân, đường ngắm chắc chắn sẽ lệch một vạch khắc trên thang đo. Hắn nhìn ra sai số ấy trong chớp mắt, con ngươi mắt phải khẽ giật một nhịp — nhưng hắn không lên tiếng, cũng không bước xuống sân.
Đó là việc huấn luyện của Giáo thụ. Không phải việc của hắn.
Quá giờ Thìn, Chu Bá Cửu thức dậy.
Thằng bé luống cuống nhóm lại đống than củi trong chiếc lò đất nung góc phòng, bắc âu đồng nhỏ nấu bát cháo hoa độn ngô đỏ xin từ nhà bếp tập thể. Mùi ngô chín tới thơm ngai ngái bốc lên, xua bớt mùi ẩm mốc của gian phòng vách đất.
"Thầy... để con bón cho thầy," Chu Bá Cửu bưng bát sành nóng bước tới mép chõng, tay cầm chiếc thìa tre mòn vẹt đầu: "Cháo nóng, tay thầy thế này cầm bát không vững đâu."
"Để xuống bàn," Vương Quang cất giọng khàn khàn: "Lấy cho ta đôi đũa tre."
Chu Bá Cửu ngập ngừng: "Thầy... tay phải thầy co cứng thế kia, cầm đũa sao được ạ?"
"Cầm bằng tay trái."
Thằng bé nhìn nét mặt dứt khoát của hắn, không dám cãi lời, đành đặt bát cháo lên chiếc bàn con kê cạnh giường rồi đưa đôi đũa tre qua.
Vương Quang ngồi thẳng lưng trên mép chõng, đưa bàn tay trái đón lấy đôi đũa.
Những ngón tay bên trái của hắn vụng về và thô ráp. Toàn bộ ký ức cầm bút, cầm thước, cầm đũa của hắn bao năm qua đều dồn hết vào tay phải. Tay trái trước nay chỉ làm việc phụ: giữ mép giấy, tì đầu thước, xốc bao tải đồ nghề. Giờ đây, khi phải ép các ngón tay trái kẹp lấy hai thanh tre tròn, khớp ngón tay lập tức trở nên lóng ngóng.
Hai thanh tre trượt qua nhau cái xoạch.
Vương Quang dừng lại một nhịp. Hắn lại hít sâu bốn nhịp, giữ hơi, thở ra để thả lỏng các thớ cơ cẳng tay trái, rồi cố định lại thế kẹp.
Đầu đũa chọc vào bát cháo, gắp một miếng ngô hạt nấu nhừ. Nhưng khi vừa nhấc lên khỏi mặt bát chừng ba tấc, ngón giữa bên trái run lên vì mỏi cơ; miếng ngô tuột khỏi đầu đũa, rơi lại vào bát, bắn một giọt nước nóng lên mu bàn tay hắn.
Chu Bá Cửu đứng bên cạnh xót xa: "Thầy... để con bón đi mà."
"Cầm đũa mà không tự cầm được thì sau này cầm thước thế nào?"
Giọng Vương Quang phẳng lặng, không chút bực dọc.
Hắn hạ thấp miệng bát xuống gần mép bàn, dùng đũa lùa từng miếng cháo nhỏ vào miệng.
Vài hạt ngô rơi vãi xuống mặt bàn gỗ. Đôi đũa tre chốc chốc lại va vào thành bát sành kêu lên những tiếng cạch... cạch... khô khốc. Mỗi miếng cháo nuốt qua cuống họng đều đòi hỏi hắn phải tập trung điều khiển từng khớp xương bên trái. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán, chảy dọc xuống thái dương, nhưng lưng hắn vẫn giữ thẳng.
Hắn ăn hết nửa bát cháo.
"Thu dọn đi," Vương Quang đặt đũa xuống bàn: "Đem thuốc ngâm của phòng Dược liệu vào đây."
Chu Bá Cửu vội bưng bát ra ngoài, rồi xách vào chiếc làn mây đựng thuốc ngâm cùng gói quế chi mà Chủ sự Lương Phương đã cấp hôm qua. Thằng bé đổ thuốc vào chậu sành, chế nước sôi từ chiếc lò đất vào. Mùi cay nồng của quế chi và thảo mộc bốc lên nghi ngút.
Vương Quang cởi lớp áo bông trần, nhúng cẳng tay phải vào trong làn nước thuốc nóng.
Hơi nóng táp vào da thịt mang lại cảm giác xót buốt, khiến khớp vai hắn giật lên từng cơn ngắn. Nước thuốc không thể xua tan chứng Hàn Uế, cũng không thể nối lại những đường gân đã co rút, nhưng hơi nóng kiên nhẫn làm dịu đi cảm giác buốt rát trong xương tủy, giúp khối cơ bắp đang cứng đờ bớt căng tức phần nào.
Hắn ngâm tay suốt nửa canh giờ, cho đến khi chậu nước thuốc nguội ngắt mới nhấc lên.
Chu Bá Cửu dùng khăn khô lau ráo nước, rồi lấy dải vải gai mới quấn cố định cổ tay lại. Cánh tay phải vẫn buông thõng, năm ngón tay vẫn co quắp không thể tự xòe ra, nhưng khớp cổ tay đã đỡ nặng nề hơn lúc sáng sớm.
"Thầy nằm nghỉ một lát đi ạ," Chu Bá Cửu nhìn sắc mặt nhợt nhạt của hắn: "Chủ sự cho thầy nghỉ việc ngoài bãi mười ngày kia mà."
"Nghỉ ngoài bãi, không phải nghỉ việc," Vương Quang đáp.
Hắn quay người lại phía chiếc bàn con.
Trên mặt bàn, mảnh giấy bản trắng và nghiên đá xám vẫn nằm đó. Bên cạnh là thanh Thiết Xích Khảo Sát bằng thép đặc dài ba thước hai tấc, nặng hơn ba cân, lạnh ngắt và câm lặng.
Vương Quang bước tới trước bàn, đưa bàn tay trái ra nắm lấy chuôi Thiết Xích.
Nặng.
Trước đây, thanh Thiết Xích này trong tay phải của hắn nhẹ như chiếc bút lông dài. Cổ tay phải có thể vung thước, khóa chốt, lia đầu ngắm qua các mốc đo chuẩn xác đến từng ly.
Giờ chuyển sang tay trái, trọng lượng ba cân của thanh thép đặc đè nặng lên các khớp ngón tay vụng về. Đầu thước thép chúc xuống đất một góc nghiêng mười lăm độ.
Vương Quang gồng cơ cẳng tay trái, cố nâng đầu thước lên ngang tầm mắt. Cổ tay bên trái bắt đầu run rẩy; thanh thước thép lắc lư trong không khí. Hắn đưa mắt ngắm qua rãnh tiêu trên đầu thước, nhắm vào chiếc chốt gỗ trên khung cửa sổ cách đó năm bước.
Đường ngắm lệch sang bên tả đúng một phân.
Hắn hạ thanh thước xuống mặt bàn gỗ. Tiếng kim loại va đập phát ra một âm thanh cạch nặng trịch.
Vương Quang nhận ra giới hạn thể chất của mình: không thể dùng cơ bắp đơn thuần của cánh tay trái chưa quen việc để gượng ép một thao tác vốn thuộc về tay thuận. Muốn giữ thanh thước này, hắn phải tìm một điểm tựa cơ học khác trên cơ thể.
Hắn không buông thanh Thiết Xích ra.
Hắn dùng tay trái kẹp chặt thân thước vào mạng sườn bên trái, lấy phần thân người làm điểm tựa chịu lực, rồi dùng ngón cái và ngón trỏ giữ lấy chuôi thước.
Tư thế này vụng về, gò bó, nhưng vững vàng.
Đầu thước không còn chúc xuống đất. Thanh thép nằm ngang, mũi thước hướng thẳng vào chiếc chốt gỗ trên khung cửa sổ.
Hắn giữ nguyên tư thế ấy một lúc lâu, đến khi bả vai bên trái mỏi nhừ mới chậm rãi đặt thước xuống.
Tiếp đó là việc cầm bút.
Vương Quang ngồi xuống ghế, tay trái cầm chiếc quản bút lông thỏ. Hắn chấm mực, rồi đặt ngòi bút xuống mặt giấy bản.
Hắn vẽ lại những đường nét hình học của nghề khảo sát: một đường ngang năm tấc, một đường vuông góc chín mươi độ, một hình bát giác, cùng các con số đo đạc: một trượng hai thước, ba phân, năm ly...
Nét mực ban đầu ngoằn ngoèo, chỗ thì đẫm mực loang lổ, chỗ thì mảnh như sợi chỉ. Vương Quang không dừng lại. Hết tờ này đến tờ khác bị mực đen phủ kín, vứt thành từng cuộn dưới gầm chõng. Cứ sau nửa trang giấy, hắn lại tì cổ tay trái vào mép bàn gỗ, thả lỏng các ngón tay mỏi nhừ cho đỡ căng cơ, rồi lại chấm mực viết tiếp.
Đến đầu giờ Mùi, tiếng bước chân quen thuộc dừng lại trước cửa phòng.
Lý Tử Trình bước vào.
Ông mặc chiếc áo bào xám bạc phếch, tay cầm một giỏ tre nhỏ đựng vài củ nâu rừng và một khúc gỗ thị thô dài chừng một thước. Khuôn mặt gầy guộc của ông bình lặng, ánh mắt lướt qua chậu nước thuốc đã nguội ở góc phòng, rồi dừng lại trên đống giấy nháp tay trái dưới chân bàn.
Ông bước tới mép bàn, cúi nhìn những dòng chữ méo mó và hình vẽ gãy góc trên tờ giấy bản.
Vương Quang buông bút, toan đứng dậy: "Lý tiên sinh."
"Ngồi yên đó," Lý Tử Trình cất giọng cộc lốc.
Ông đặt khúc gỗ thị lên mặt bàn, rút từ trong bọc áo ra con dao gọt cán bút bằng thép đã mòn vẹt lưỡi:
"Vót khúc gỗ này thành cọc tiêu bốn cạnh. Cạnh vuông một tấc, đầu vát nhọn góc ba mươi độ."
Vương Quang nhìn khúc gỗ thị sần sùi, rồi nhìn con dao thép:
"Bằng tay trái ạ?"
"Chẳng lẽ bằng chân?"
Lý Tử Trình kéo chiếc ghế đẩu đối diện ngồi xuống, hai tay đặt trên đầu gối, ánh mắt phẳng lặng:
"Kẻ làm trắc địa sống bằng mắt và thước, không sống bằng tay thuận. Tay trái của ngươi chưa đủ lực để ghìm dao. Khi vót, dùng sức của cả bả vai và hông, lấy thân mình làm cữ, đừng chỉ dồn vào mấy đầu ngón tay. Vót hỏng một tấc thì chặt đi một tấc, vót đến khi nào bốn cạnh phẳng lì mới được dừng."
Vương Quang khẽ hít sâu một hơi.
Hắn điều tức bốn nhịp, dẫn hơi ấm từ đan điền lan tỏa ra khắp lồng ngực, ghìm lại cơn buốt nơi bả vai phải.
Hắn vươn tay trái đón lấy con dao gọt cán bút.
Bàn chân phải đạp giữ một đầu khúc gỗ thị tì chặt vào chân bàn, hông hơi nghiêng sang bên tả, lấy trọng lượng nửa thân người dồn lực vào bả vai trái. Tay trái cầm dao, hắn ấn lưỡi thép vào thớ gỗ già.
Xoẹt...
Một mảng dăm gỗ thị rơi xuống sàn. Nhát cắt đầu tiên lẹm sâu vào thân gỗ nửa phân vì lực ấn chưa đều.
Lý Tử Trình ngồi im nhìn vết lẹm ấy, không chê một lời.
Đúng lúc đó, ngoài hiên có tiếng bước chân vội vã của một phu trạm thuộc dịch trạm Nam Phong. Người phu trạm mặc áo tơi ngắn, chân quấn xà cạp bết bùn, tay cầm ấm nước chè xanh bước tới cửa, cất giọng chào hỏi:
"Chào các thầy Khâm Giám! Có ấm nước chè nóng mới hãm ngoài cổng trạm, tôi mang vào mời các thầy một bát cho ấm giọng đây!"
Chu Bá Cửu chạy ra đón lấy ấm nước: "Cảm ơn bác! Ngoài đường cái hôm nay có tin gì mới không bác?"
Người phu trạm đứng tựa bậu cửa, xoa xoa hai bàn tay đỏ ửng vì rét:
"Tin tức thì nhiều. Sáng nay tôi vừa chạy ngựa trạm từ ngã ba sông Hát qua bến Bùi. Khúc đê bến Bùi mấy hôm nay nước rút êm rồi, bờ kè tạm đắp bằng đá dằn theo mấy cái cọc tiêu sơn vôi trắng của các thầy không thấy sạt thêm mảng nào nữa. Huyện nha Bùi Khê đã cho dựng một điếm canh phụ ngay mép cọc tiêu, cấm dân đò ra lạch sâu vớt củi."
Lão phu trạm tặc lưỡi, giọng chùng xuống:
"Chỉ tội cho thân nhân mười bảy đinh phu rơi xuống nước... Sáng nay nghe nói người ta vớt được hai thi thể trôi dạt tận ngã ba sông mẹ phía dưới, người ngợm dập nát cả, chưa rõ có phải người bến đò hay không. Mười lăm người kia thì vẫn chưa tìm thấy tăm hơi... Dân làng đang chuẩn bị làm lễ cầu siêu ngoài bãi cát."
"Thế còn... vị quan Ngự sử của Đô Sát Viện thì sao bác?" Chu Bá Cửu hỏi nhỏ.
"Vị nữ quan cưỡi ngựa khoang ấy à?" Người phu trạm cười xòa: "Phi ngựa nhanh như gió cuốn. Trưa hôm qua đã qua trạm dịch cửa ô Kinh thành rồi, nghe đâu vào thành là phóng thẳng về Đô Sát Viện dâng tráp hồ sơ, lính trạm bến Bùi chúng tôi chẳng ai dám hỏi nửa lời!"
Nói đoạn, người phu trạm chào một tiếng rồi xốc lại xà cạp bước nhanh về phía cổng doanh.
Gian phòng vách đất lại chìm vào sự yên tĩnh.
Tiếng gió bấc ngoài sân vẫn thổi từng hồi khô khốc, cuốn theo tiếng đếm bước chân đo đạc của đám trắc thủ trẻ tuổi ngoài bãi.
Vương Quang ngồi bên mép bàn, không ngẩng đầu lên trong suốt câu chuyện của người phu trạm.
Những tin tức về bờ kè bến Bùi, hai thi thể chưa rõ danh tính trôi dạt nơi hạ lưu, hay chuyến ngựa của Thanh Diệp về cổng thành Kinh sư... đều đã được chuyển giao sang tay những người có thẩm quyền tiếp nhận. Phần việc của hắn ở bến Bùi đã xong; trước mắt hắn lúc này là học cách tiếp tục làm một trắc thủ với cơ thể hiện tại.
Hắn cúi đầu nhìn khúc gỗ thị trên đùi.
Hắn lại điều hòa nhịp thở, lấy thân mình làm cữ, dồn lực từ bả vai trái vào cán dao thép.
Xoẹt...
Một dải dăm gỗ thứ hai rơi xuống đất. Lần này, lưỡi dao đi phẳng hơn, thớ gỗ vàng sẫm lộ ra dưới ánh sáng mùa đông.
Lý Tử Trình nhấc bát nước chè nguội Chu Bá Cửu vừa rót, nhấp một ngụm nhỏ, mắt nhìn ra khoảng sân đất nện xám xịt:
"Tiếp."
Mười ngày nghỉ việc ngoài bãi của Vương Quang mới chỉ bắt đầu từ nhát dao thứ hai này.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.