Nhân Gian Có Màn

Chương 94: Tiếng Gọi Dưới Bùn Sâu

Đăng: 23/09/2026 14:09 2,740 từ 7 lượt đọc

Âm vang kim khí từ sâu dưới ba thước bùn đen vẫn còn rền rĩ, truyền qua thân thanh Thiết Xích Khảo Sát làm tê dại từng đốt ngón tay trái của Vương Quang.

Mùi bùn ngâm lâu năm nồng nặc mùi lưu huỳnh và xác cỏ mục bốc lên ngùn ngụt từ phễu nước xoáy. Hai tên thợ lặn của Đốc Vận Ty đứng chết trân bên cạnh, nửa thân dưới ngập sâu trong lớp bùn nhão quánh, mắt trừng trừng nhìn mũi thước sắt đang cắm ngập dưới chân cọc lim khắc chữ “MÔN”.

"Thầy... Thầy đụng phải cái gì đấy?" Một tên thợ lặn run rẩy cất tiếng, bắp thịt cuồn cuộn trên hai bả vai trần nổi gai ốc vì cái rét thấu xương: "Đá tảng hay... xích sắt của bè mảng cũ?"

"Không phải đá. Đưa xẻng sắt đây," Vương Quang gằn giọng qua kẽ răng còn ngậm bã trầu cay xè.

Trên bờ cầu tàu, thấy nhóm thợ lặn dừng lại quá lâu giữa bãi sông cạn, viên Đề lại của Đốc Vận Ty sốt ruột bước ra mép ván gỗ gào lớn:

"Dưới đó làm cái trò gì thế? Giờ Thìn đã qua hơn nửa rồi! Mau đào vét lạch sâu cho nước chảy, quan Phó Đốc Vận mà nổi lôi đình thì đừng trách roi sắt không nể mặt!"

Từ bờ cát, Chu Bá Cửu không chịu nổi sự căng thẳng, bỏ lại chiếc gùi tre bên cạnh Lão Bùi đang mê man, xách theo một chiếc xẻng sắt cán dài lội bì bõm qua bãi sình lầy ra mép lạch. Bùn lạnh ngập đến bắp đùi khiến gã thở hắt ra từng luồng khói trắng đục, hai hàm răng va vào nhau lập cập nhưng vẫn ráng bặm môi bước tới bên cạnh Vương Quang:

"Thầy ơi... Con mang xẻng ra đây..."

"Đứng lên gờ đá vôi kia, đừng giẫm chân vào phễu xoáy," Vương Quang giật lấy chiếc xẻng sắt từ tay Chu Bá Cửu, đưa cho tên thợ lặn lực lưỡng: "Hai người các ngươi cào lớp bùn quanh chân cọc lim này ra. Đào rộng chừng ba thước, cẩn thận đừng để sạt bờ cát."

Hai tên thợ lặn cắn răng, cúi rạp người xuống mặt bùn tanh tưởi, dùng xẻng sắt và hai bàn tay trần cào từng mảng bùn đen sền sệt ném sang hai bên. Lớp bùn non bị bóc tách đến đâu, dòng nước xám đục lại từ các khe đá ngầm rỉ ra cuồn cuộn đến đó, mang theo cái lạnh buốt giá như vừa múc từ một giếng băng ngàn năm.

Lưỡi xẻng sắt cạo rào rào qua lớp cát hạt thô. Chừng nửa khắc sau, mũi xẻng bỗng khựng lại với một tiếng cộc nặng nề.

"Có... có vật lạ thật này thầy Ký lục!"

Tên thợ lặn thò cả hai cánh tay bôi mỡ trăn ngập sâu vào lòng bùn, ngón tay lần mò men theo bề mặt một khối kim loại trơn nhẵn. Gã cùng người bạn hợp sức vần mạnh, hai bắp tay gồng cứng kéo bật vật thể ấy lên khỏi lớp bùn mút chặt.

Rột... xoạt!

Bùn đen trôi tuột khỏi bề mặt kim loại, để lộ một vật thể hình chuông úp ngược nằm kẹt cứng giữa khe nứt của bờ đá ngầm và chân cọc lim.

Đó là một chiếc chuông đồng cổ.

Chiếc chuông cao chừng hai thước, đường kính miệng chuông rộng hơn một thước rưỡi, đúc bằng đồng thau đen bóng đã lên ten xanh rỉ sét loang lổ. Kỳ lạ thay, trên đỉnh chuông hoàn toàn không có quai treo hình bồ lao hay lỗ xỏ dây như các loại chuông chùa hay chuông báo canh của nha môn; hai bên thân chuông cũng trơn lùi, không tai nắm, không gờ chỉ. Bên trong lòng chuông rỗng tuếch, không hề có quả lắc bằng sắt hay gỗ.

Toàn bộ thân chuông nằm chèn vào khe đá dưới chân cọc, một phần vành đồng bị mộng đá ép sát đến biến dạng. Nhìn bằng mắt thường, nó giống một khối kim loại bị cố ý nhét vào khe hẹp.

Vương Quang khom người, đưa ống tay áo chàm quẹt sạch lớp bùn tanh bám trên vành chuông.

Dưới lớp ten đồng xanh xám, một hàng chữ Hán khắc chìm sắc sảo hiện ra. Nhưng dòng chữ ấy dường như đã bị dòng nước xiết và cát sỏi đáy sông bào mòn suốt nhiều đời; nửa dưới của các nét chữ bị xói mòn nham nhở, mất hút vào thớ đồng rỗ hoa mai, chỉ còn đọc được trơ trọi nửa câu phía trên:

“Người qua sông, không được gọi tên...”

Phần chữ phía sau đã bị một vết đục sâu hoắm bạt mất hoàn toàn, chỉ còn lại một vết sẹo kim loại xám xịt kéo dài xuống tận mép vành chuông.

Vương Quang nheo mắt trái, ngón tay cái miết nhẹ lên vết đục tàn nhẫn ấy. Vết đục này có hình dáng góc cạnh, sắc bén gợi nhớ đến dấu vết do những chiếc nêm thép quan xưởng tạo ra trên đỉnh Đèo Gió đêm qua.

Chu Bá Cửu đứng bên cạnh, nhìn chằm chằm vào nửa câu chữ Hán mòn vẹt, toàn thân run rẩy vì gió bấc, cất giọng thì thào ngơ ngác:

"Thầy... 'Người qua sông, không được gọi tên'... Người qua sông là ai hả thầy?"

Không gian quanh bãi sông cạn bỗng nhiên ngưng đọng lại trong một khoảnh khắc kỳ quái.

Gió đông vẫn rít qua các khe cọc lim, nhưng mọi âm thanh của tiếng quát tháo từ trên bờ cầu tàu bỗng dường như xa xăm lạ lùng, tựa như bị ngăn cách bởi một tấm rèm bông dày đặc.

Vương Quang chưa kịp mở miệng đáp lời.

Thì từ sâu trong hốc bùn ngập nước đen ngòm ngay dưới đáy chiếc chuông đồng úp sấp, một âm thanh trầm đục bỗng vọng lên:

“Vương... Quang...”

Tiếng gọi nghẹn đặc, khàn khê và lạnh ngắt như thanh âm của một kẻ đang sặc nước thốt ra từ cuống họng đầy bùn đất.

Âm thanh ấy hoàn toàn không truyền qua không khí. Không có một ngọn gió nào lay động, mặt bùn xung quanh cũng không hề gợn sóng. Nhưng từng dao động của tiếng gọi dội thẳng qua lớp bùn quánh, chạy dọc theo thân thanh Thiết Xích Khảo Sát mà bàn tay trái của Vương Quang đang chống trên mép chuông, truyền qua các khớp xương cổ tay, dội thẳng vào tận hộp sọ hắn!

Hai tên thợ lặn và Chu Bá Cửu cùng lúc lảo đảo lùi lại một bước, mặt cắt không còn một giọt máu.

"Ai... Ai vừa gọi dưới bùn thế?!" Tên thợ lặn hét lên thất thanh, vung chiếc xẻng sắt ra phía trước phòng thủ trong vô vọng.

Chu Bá Cửu ôm chặt lấy đầu, quỳ sụp xuống mép đá vôi: "Tiếng... tiếng ban nãy... Đúng là tiếng ban nãy gọi tên thầy..."

Vương Quang không lùi.

Nhưng ngay khoảnh khắc âm thanh ấy dứt điểm, hốc mắt bên phải của hắn — nơi màng xám của Âm Lệnh Nhãn đang tạm lắng sau cơn sốt rét — bỗng nhiên giật nảy lên một cơn đau buốt rát dữ dội!

Nhói!

Cơn đau như thể có một mũi kim thép nung đỏ đâm xuyên từ đáy mắt thọc thẳng vào tận chẩm gáy. Một giọt dịch đỏ loãng lẫn mủ tanh rỉ ra từ khóe mắt phải, lăn dài qua gò má xám ngoét của hắn. Lực dội ngược của con mắt làm màng óc Vương Quang quay cuồng, tầm nhìn của con mắt trái người thường lập tức mờ tịt đi.

Và qua lớp màng xám đục ngầu của con mắt phải, cảnh tượng bãi sông cạn trước mắt hắn bỗng nhiên biến dạng.

Không còn lớp bùn xám xịt nhơ nhớp thông thường.

Trên mặt bãi sông khô khốc nứt nẻ trải dài từ hạ lưu ngược về phía chân hàng cọc lim, Vương Quang nhìn thấy hàng trăm dấu chân người trần in hằn sâu hoắm vào lòng đất.

Những dấu chân ấy không có thân người, không có bóng đổ, chỉ là những vết lõm đen kịt rỉ nước bùn tươi rói. Hàng trăm đôi dấu chân ấy xếp thành từng hàng dài dằng dặc, tất cả đều đang bước đi ngược dòng chảy, hướng từ vùng nước cạn dưới bến Bùi xốc thẳng về phía vách núi Thác Khói.

Và đúng vào khoảnh khắc Vương Quang nhìn thấy chúng, toàn bộ hàng trăm đôi dấu chân đang di động ấy bỗng nhiên đồng loạt dừng bước.

Chúng xoay gót lại.

Hàng trăm vết lõm hình bàn chân người trần trên mặt bãi sông từ từ chuyển hướng, tụ lại thành những vòng tròn đồng tâm ken đặc, quây kín xung quanh chiếc cọc lim khắc chữ “MÔN” — nơi Vương Quang đang đứng cắm thước sắt.

Một cảm giác nghẹt thở tột cùng bóp nghẹt lồng ngực hắn. Tim Vương Quang đập dồn dập những nhịp khô khốc, mồ hôi lạnh vã ra hòa lẫn với giọt máu rỉ bên khóe mắt.

Không thể nhìn nữa... Mắt sẽ nứt ra mất!

Bằng một phản xạ sinh tồn của kẻ mang thương tích nặng, Vương Quang nghiến răng bặm chặt đầu lưỡi, chớp mạnh hai mắt lại!

Cơn đau xé thịt từ đầu lưỡi giáng xuống kéo giật màng xám co rút lại. Khi hắn mở toang mắt trái ra, lớp sương mù mờ đục tan biến. Bãi sông cạn trước mặt lại chỉ là lớp bùn nhão xám xịt lầy lội, rải rác những con cá trạch chết khô và chiếc chuông đồng ten xanh nằm im lìm dưới chân cọc gỗ. Không có dấu chân nào cả.

Nhưng thanh thước sắt trong tay trái hắn vẫn rung lên bần bật.

Vương Quang không biết thứ vừa xuất hiện là gì. Hắn chỉ biết những gì thanh thước truyền về lòng bàn tay: bên dưới lớp bùn có khoảng rỗng, có kim loại, có nước đang hút qua một cấu trúc mà hắn chưa đo hết được.

"Lên bờ!" Vương Quang khàn giọng quát, thanh âm khô khốc làm hai tên thợ lặn bừng tỉnh: "Lên bờ ngay!"

Hắn nắm lấy cổ áo Chu Bá Cửu giật mạnh, kéo gã phu trạm đang hoảng loạn đứng dậy. Cả bốn người bì bõm lội qua bãi bùn lầy, leo ngược lên sàn cầu tàu bằng gỗ nghiến trong hơi thở dốc dập dồn.

Công việc đào bới dưới bùn lầy cùng những giằng co căng thẳng đã ngốn mất gần nửa canh giờ. Trên cầu tàu, bóng nắng mờ đục rọi qua màn mây mùa đông đã chênh chếch ngả sang góc giờ Tỵ. Phó Đốc Vận đã đứng đợi sẵn từ bao giờ, thanh trường kiếm bên hông hắn rung nhẹ theo từng bước chân nặng nề, đôi mắt sâu hoắm ánh lên vẻ sốt ruột và giận dữ tột cùng:

"Sao lại trèo lên? Đo đạc được bao nhiêu thước? Luồng lạch sâu nằm ở đâu?"

Vương Quang đứng thẳng người, bàn tay trái nắm chặt thanh thước sắt chống xuống mặt sàn gỗ, vạt áo chàm đẫm bùn đen bết vào da thịt:

"Bẩm quan lớn, không thể đào vét luồng lạch ở khúc này."

"Ngươi nói cái gì?" Đôi mắt Phó Đốc Vận quắt lại thành hai đường rãnh sắc lẹm.

"Bẩm quan lớn, chân cọc này ăn rất sâu vào nền đá," Vương Quang cất giọng rành rọt, giữ vững thái độ thận trọng của một Ký lục trắc đạc: "Bên dưới có một khoảng rỗng, nước đang hút qua. Hạ quan chưa biết cấu trúc bên dưới nối tới đâu, nhưng nếu cưỡng ép kéo cọc, không ai có thể đoán được nền bùn sẽ sụp theo hướng nào. Với tình trạng hiện tại, đào phá ở đây có thể khiến cả doi bờ mất chân."

Lời cảnh báo về nguy cơ sụt lở thực tế của Vương Quang khiến đám phu thuyền xung quanh đều tái mặt.

Nhưng Phó Đốc Vận không nghe.

Hắn ngẩng đầu nhìn lên bầu trời mùa đông xám xịt. Giờ Tỵ đã điểm. Hạn chót ngày hai mươi ba tháng Chạp đang treo lơ lửng trên đầu hắn như một lưỡi đao trảm quyết. Mỗi khắc trôi qua là một khắc mạng sống của hắn và tiền đồ của cả gia tộc đang trượt dần xuống miệng vực thất trách. Đối với một viên quan thực vụ đang bị dồn vào chân tường, những cảnh báo về sự khó lường của địa chất hay những khúc gỗ cản đường chỉ là sự thoái thác hèn nhát của một kẻ ngoại ngạch sợ chết.

"Một tên Ký lục quèn không có chức sắc, lại dám đứng trước mặt bản quan nói lời cản trở việc vận lương quốc gia!"

Phó Đốc Vận gầm lên một tiếng, tuốt soạt thanh trường kiếm ra khỏi bao da cá đuối! Ánh thép xanh biếc chém xoẹt một đường ngang không khí, chỉ thẳng vào mặt Vương Quang:

"Kè gỗ hay ngàm đá thì cũng chỉ là vật do bàn tay con người dựng lên! Nước không chịu chảy thì phá cọc cho nước chảy! Bản quan phụng mệnh vận lương, không thể đứng đây nghe mấy chuyện ma quỷ mà chờ trời thương!"

Hắn quay phắt sang phía viên Đề lại và toán quân áp mạn Đốc Vận Ty, thét lớn như sấm ran:

"Truyền lệnh của ta! Đưa bốn con trâu mộng kéo thuyền lương xuống bãi! Lấy hai sợi cáp sắt lớn nhất trong kho công cụ, quấn chặt lấy thân cọc lim ngoài cùng! Cho hai mươi phu thuyền hợp sức kéo giật!"

"Quan lớn... Cọc lim ấy cắm sâu lắm..." Viên Trưởng tuần bến Bùi run rẩy định can ngăn.

"Kẻ nào dám chậm trễ nửa nhịp, chém đầu tại chỗ!" Mũi kiếm của Phó Đốc Vận vung lên rợn người, triệt tiêu mọi lời can gián.

Lệnh ban ra như núi lở.

Chỉ trong một khắc, bốn con trâu mộng đen trùi trũi, sừng nhọn hoắt, bắp thịt cuồn cuộn chuyên dùng để kéo xà lan vượt ghềnh đã bị lùa xuống bãi cát lầy lội. Hai sợi dây cáp sắt bện to bằng cổ tay trẻ con, đen nhánh dầu mỡ, được đám lính tuần quấn ba vòng siết chặt quanh thân chiếc cọc gỗ lim khắc chữ “HẠN” nằm ngoài mép bờ đá.

Hai mươi gã phu thuyền khỏe mạnh nắm chặt lấy các đoạn dây đay buộc nối vào cáp sắt, đứng dàn hàng ngang trên dốc cát trơn trượt.

"Chuẩn bị!" Viên Đề lại vung cao ngọn cờ hiệu màu đỏ quạch.

"Thầy ơi... Họ nhổ cọc thật rồi..." Chu Bá Cửu nép chặt sau lưng Vương Quang, hai mắt trừng trừng nhìn ra bãi sông, hàm răng va vào nhau cầm cập.

Vương Quang đứng chôn chân trên sàn cầu tàu, bàn tay trái nắm chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát đến trắng bệch các khớp xương. Hắn nhìn sợi cáp sắt đang từ từ nâng lên khỏi mặt nước bùn, trong lòng dấy lên một cảm giác bất an lạnh buốt. Hắn đã làm tròn bổn phận cảnh báo của một Ký lục trắc đạc; nhưng bánh xe quyền lực của cõi trần khi đã bị dồn đến bước đường cùng sẽ nghiền nát mọi ranh giới mà nó nhìn thấy.

"KÉO!"

Ngọn cờ lệnh hạ xuống.

Roi sắt của đám lính Đốc Vận Ty quất vun vút vào mông bốn con trâu mộng. Lũ trâu lồng lên, rống lên những tiếng man dại, bốn vó guốc sắt cày sâu vào bãi cát ướt, kéo căng hai sợi cáp sắt thành một đường thẳng tắp rít lên từng hồi u u ghê rợn.

Hai mươi phu thuyền nghiến răng gầm thét, ngả rạp người về phía trước dồn toàn bộ sức bình sinh kéo giật lùi.

KÉTTTT... RẮC!

Sợi cáp sắt nghiến ngập vào thớ gỗ lim nghìn năm tuổi, bửa toạc lớp vỏ rêu phong đen sì. Dưới đáy bùn sâu, tiếng rên xiết của mộng đá ngầm và kim loại cổ cọ xát vào nhau vang lên từng hồi ken két chói tai, rúng động cả khúc bến sông câm lặng.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3