Chương 118: Khóa Mạch Lâm Thời
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
122 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 122/122 chương
Rắc... Rào rào...
Tiếng vữa vôi vỏ sò vỡ vụn dội thẳng vào màng nhĩ. Sau cú dịch chuyển của sợi xích đồng thau, khối đá "Hát Giang Địa Tử" bên trong đường hầm ngầm dường như đã nhích đi một phần mấy phân. Áp lực nước ngầm bị dồn nén suốt mười chín năm lập tức tìm thấy khe hở, đẩy một trào bùn đỏ quạch phụt mạnh qua kẽ nứt của vòm cống Luy Lâu.
Vách cát dưới chân khối gỗ dâu bắt đầu có hiện tượng sụt lở từng mảng lớn. Nếu chân kè này sụp xuống, toàn bộ trọng lượng của vòm gạch cổ sẽ đè nát người bên dưới.
"Không được nhổ cây đinh sắt pha đồng kia lên!"
Vương Quang gào lên trong gió bấc, gân cổ nổi rõ. Hắn dùng tay trái kéo giật Chu Bá Cửu lùi lại khỏi vùng cát đang hóa lỏng: "Cây đinh đó đang giữ một phần kết cấu! Rút nó ra là sập toàn bộ cống ngầm!"
Hắn quay phắt sang phía Huyện thừa Lê, giọng ráo hoác và đanh gọn:
"Huyện thừa đại nhân! Hạ lệnh cho phu phen bến bãi chặt ngay tre đực, vạt nhọn đầu! Đừng dựng đứng, đóng xiên sâu vào mép vỉa cát đang trượt, ép đầu cọc về phía chân kè! Mang rọ đá hộc và bao tải cát chèn cứng chân cọc!"
Huyện thừa Lê không chần chừ nửa khắc, lập tức quay sang Đội trưởng Ti Phổ quát lớn: "Nghe rõ chưa?! Điều toàn bộ lính tuần và dân đinh vòng ngoài lao vào! Kẻ nào dám bỏ chạy, chém!"
Mệnh lệnh hành chính đi kèm uy quyền sinh sát lập tức phát huy tác dụng. Giữa màn mưa phùn lạnh buốt, hơn năm mươi phu phen và lính tuần mang theo vồ gỗ nghiến, xà beng và tre đực rầm rập lao xuống bãi bùn. Tiếng hô "Dô... ta!" vang lên rền rĩ xen lẫn tiếng vồ gỗ nện đinh tai nhức óc. Những cọc tre đực dài hai trượng liên tiếp được đóng xiên cắm phập vào nền đất phù sa. Hàng chục bao tải cát mịn trộn sỏi cùng rọ đá hộc được ném xuống lấp kín những khoảng hụt, tạo thành một hệ thống giằng cơ học vững chắc.
Mất gần một canh giờ vật lộn giữa đống bùn nhão, vỉa cát ngầm mới tạm thời ngừng sụt. Khối gỗ dâu được chèn cứng lại, không trượt thêm một phân nào nữa.
Vương Quang đứng tựa lưng vào một gốc đa ven bãi, ngực phập phồng thở dốc.
Thi thể Tống Hữu Triều đã được lính tuần cẩn thận kéo ra khỏi khe hở. Theo sự chỉ đạo của hắn, thân thể ấy được bó cẩn thận trong hai lớp chiếu cói, quấn dây gai bảy vòng rồi đặt nằm tạm thời trên sàn gỗ của chiếc thuyền tuần nhỏ có lính huyện nha bồng mác canh giữ. Đoạn xích đồng thau đứt mắt được niêm phong riêng trong một tráp gỗ sam, có chữ ký giáp lai bằng son đỏ của cả Huyện thừa Lê lẫn Thanh Diệp.
Hai ống quần chàm của Vương Quang bết đặc bùn non đỏ quạnh, nặng trịch tựa như đeo chì. Bàn tay phải của hắn lúc này đã tê dại hoàn toàn. Gió đông lùa vào vết sẹo nơi hắn từng tự tay nạo lấy Chân Thư Bút; cơn đau từ chứng Hàn Uế bám rễ sâu trong tủy xương khiến các ngón tay cứng đờ, không thể tự xòe ra được.
Hắn đành dùng bàn tay trái rút trong bọc ngực ra một dải vải gai thô, cắn một đầu vào răng, một đầu quấn chặt lấy cổ tay phải để ép các khớp xương cố định lại, tạm thời ghìm cơn co giật.
Trong túi da trâu giắt bên hông hắn lúc này có hai thứ: chiếc chìa khóa đồng thau khắc chữ “HÃM” lạnh ngắt và cuốn sổ bọc giấy dầu cũ kỹ mép đã sờn rách vừa tìm thấy bên người Tống Hữu Triều.
"Vương tiên sinh, không mở cuốn sổ ra xem trước sao?" Thanh Diệp sải bước tới, chiếc áo tơi đen tráng nhựa đường khẽ sột soạt. "Tống Hữu Triều nằm dưới đáy cống mười chín năm, thứ mang theo bên mình chắc chắn có ghi chép về công trình ngầm này."
"Không mở lúc này." Vương Quang không quay đầu lại, giọng khàn đặc vì nuốt phải nước mưa: "Giấy dầu ngâm ẩm quá lâu, vừa đưa ra gặp gió lạnh sẽ bở vụn ra như cám gạo. Phải tìm chỗ kín gió, đốt chậu than củi hong khô từ từ mới bóc từng trang được."
Hắn bước lên triền đê, đi thẳng qua cổng tam quan đổ nát của miếu Thượng Hộ.
Ngôi miếu nằm trên một gò đất cao hơn mặt bến sông chừng một trượng rưỡi, lưng tựa vào chân lũy đất thành cổ Luy Lâu, mặt ngoảnh ra ngã ba sông Hát. Toàn bộ mái ngói mũi hài của tòa tiền tế đã sụp đổ từ lâu, xà gồ gỗ lim gãy mục nằm ngổn ngang giữa đám cỏ gai.
Chính giữa khoảng sân gạch vồ nứt toác, miệng giếng cạn miếu Thượng Hộ lộ ra dưới màn mưa xám xịt.
Thành giếng xây bằng đá ong lỗ chỗ, rêu đen phủ kín. Miệng giếng hình bát giác, đường kính đo đúng sáu thước, bên trên gác ngang hai thanh gỗ dâu xẻ vuông đã mục rỗng ruột.
Lý Tử Trình chống cây gậy tre đực bịt sắt tiến lại gần, dùng mũi gậy gạt phăng lớp dây leo chằng chịt. Cựu Giám sinh đưa mắt nhìn xuống lòng giếng đen ngòm hun hút, rồi ghé mũi ngửi thật sâu luồng khí từ đáy giếng bốc lên:
"Mùi vôi chết... lẫn mùi bùn ngấu chân thành. Không có mùi hôi của xác súc vật. Đáy giếng này rỗng hoàn toàn, không đọng nước."
Vương Quang tháo cuộn dây rọi bọc sợi gai se ba sợi giắt bên hông. Đầu dây buộc một quả chì nặng tám lạng hình quả chuông, có rãnh khía đo từng tấc một.
"Chu Bá Cửu, giữ chặt đầu thang tre gác ngang miệng giếng." Vương Quang ra lệnh.
"Dạ, thầy để con giữ chắc!" Chu Bá Cửu bước tới, hai chân tì mạnh vào hai phiến đá ong, hai tay ghìm chặt thanh thang tre già.
Vương Quang quỳ một gối trên miệng giếng, tay trái chầm chậm thả quả chì xuống đáy sâu.
Sợi dây gai chạy qua kẽ ngón tay hắn phát ra tiếng xột xoạt đều đặn. Một trượng... hai trượng... ba trượng... Đến tầm ba trượng sáu thước, sợi dây bỗng chùng xuống một nhịp rất khẽ.
Cộc.
Tiếng quả chì chạm vào bề mặt phẳng, khô cứng bên dưới vọng ngược lên. Thanh âm đanh và giòn tan chứ không hề có tiếng bõm của bùn nhão.
"Ba trượng sáu thước," Vương Quang dùng móng tay bấm một vệt đánh dấu trên sợi dây gai, mắt nheo lại tính toán: "Mặt sân miếu cao hơn bến bồi chừng một trượng rưỡi. Đáy cống ngầm nơi khối đá Địa Tử nằm sâu dưới mặt bãi đoạt khoảng hai trượng một thước. Ba trượng sáu trừ đi một trượng rưỡi... vừa vặn bằng hai trượng một thước."
Thanh Diệp đứng bên cạnh khẽ nhíu mày:
"Đáy giếng cạn này nằm cùng một mặt phẳng ngang với đáy đường hầm ngầm Luy Lâu?"
"Mới chỉ là sự trùng khớp về số đo cao độ, chưa đủ dữ kiện kết luận chúng thông với nhau," Vương Quang lạnh lùng đáp. Hắn rút quả chì lên, đưa phần đáy quả chì lên sát mắt: Lớp sáp ong trát dưới đáy quả chì dính một lớp bột vôi trắng mịn và vài mẩu vụn than củi khô khốc.
Hắn quay sang Chu Bá Cửu: "Đốt một bó rơm nhỏ tẩm nhựa thông. Thả một nhúm lông ngỗng xuống trước."
Chu Bá Cửu lập tức lấy bùi nhùi đánh lửa, châm một bó rơm nếp cuộn chặt sợi chỉ gai. Khói trắng mang theo mùi hăng của nhựa thông bắt đầu cuộn lên. Vương Quang thả ba chiếc lông ngỗng trắng bọc tro nhẹ vào giữa miệng giếng, rồi từ từ hạ bó rơm đang bốc khói xuống lưng chừng giếng khoảng năm thước.
Cả nhóm nín thở nhìn vào luồng khói trắng.
Nếu giếng cạn là một hố kín độc lập, luồng khói nóng bốc lên sẽ cuộn ngược thẳng lên trời. Thế nhưng, vừa chạm tới độ sâu năm thước, luồng khói trắng bỗng nhiên bị một lực bẻ gãy phương thẳng đứng. Từng dải khói mỏng manh bị kéo bạt sang vách giếng phía Tây Nam, rồi biến mất hút vào một khe nứt ngầm dưới vách đá ong.
Ba chiếc lông ngỗng lơ lửng giữa không trung cũng bị gió xoáy tròn, hút tuột xuống đáy sâu phát ra tiếng rít khe khẽ.
"Có luồng khí ngầm," Vương Quang thu tay lại, dập tắt bó rơm. "Nó đi xuống phía Tây Nam. Có ít nhất một khoảng rỗng hoặc khe thông phía dưới, nhưng chưa biết dẫn tới đâu."
"Có liên quan tới vòm cống Luy Lâu bên kia không?" Thanh Diệp hỏi. Hướng Tây Nam chính là hướng bến Hát.
"Có khả năng. Nhưng chưa đủ bằng chứng để nói là cùng một đường."
Lý Tử Trình gật gù, ngón tay cái miết mạnh lên đầu gậy tre:
"Ta từng thấy kiểu giếng này trong vài nền hầm cũ. Người xưa thường chừa một đường thở cho khoang kín, nhưng giếng này có phải dùng vào việc ấy hay không thì chưa dám nói. Nếu là hầm cổ, đây rất giống một miệng thông khí. Nhưng cái khe dưới đó dẫn đi đâu thì phải xuống tận nơi mới chắc được."
"Vậy chiếc chìa khóa chữ 'HÃM' dùng để làm gì?" Huyện thừa Lê từ ngoài sân miếu bước vào, nét mặt căng thẳng: "Có then khóa nào dưới đáy giếng này không?"
Vương Quang đưa tay vào túi da trâu, chạm vào bề mặt kim loại lạnh ngắt của chiếc chìa khóa đồng. Rãnh răng cưa của nó dày dặn, các mấu thép được gọt giũa tỉ mỉ theo dạng hình thang lệch — một quy chuẩn khóa cơ học dùng cho các hệ thống then cài chịu tải trọng lớn.
Hắn nhìn xuống miệng giếng đen ngòm, không trả lời ngay. Hắn nhớ lại cảm giác dòng nước dội ngược khi khối gỗ dâu dịch chuyển. Cấu trúc này không đơn giản, và hắn không có quyền phép nhìn thấu lòng đất.
"Chưa rõ," Vương Quang ráo hoác trả lời: "Dưới đáy có luồng khí ngầm hút xiết, dây rọi chỉ xác nhận bề mặt phẳng cứng, không thể xác định có kết cấu then khóa hay không. Tuyệt đối không ai được cầm chìa khóa trèo xuống đáy giếng lúc này."
Hắn đứng thẳng dậy, nhìn Huyện thừa Lê:
"Huyện thừa đại nhân, xin cho lính tuần rào kín miệng giếng bằng cọc tre và lưới gai. Cấm dân làng bén mảng lại gần. Đêm nay, trước khi triều sông Hát lên con nước lớn, chúng ta phải giữ nguyên trạng thái này. Nếu vội vã cắm chìa khóa hay xoay chuyển chốt cơ học mà chưa hiểu rõ toàn bộ đường thông khí, áp lực thủy cấp từ bến sông dội ngược lên có thể thổi tung toàn bộ nền miếu Thượng Hộ."
Biết một phần, chỉ được phép làm trong phần nắm chắc. Phần chưa hiểu, tuyệt đối để trắng.
Thanh Diệp nhìn sâu vào mắt hắn, khẽ gật đầu:
"Được. Tạm thời rào miệng giếng lại. Giờ đưa cuốn sổ bọc giấy dầu về điếm tuần, đốt than củi hong khô."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.