Chương 96: Món Nợ Dòng Nước
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
96 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 96/96 chương
Chiếc thuyền thứ mười ba không hề nhúc nhích.
Giữa dòng nước lũ cuộn đỏ phù sa đang réo gầm xối xả, con thuyền đóng bằng những thanh ván tạp đen sì đứng phăng phắc như thể dưới đáy lườn có một cái ngàm sắt cắm chặt vào đá ngầm. Không mái chèo, không dây kéo, không người cầm lái. Từng mảng bọt bùn vàng ệch từ thượng nguồn dạt tới mũi thuyền liền bị xé đôi, rẽ sang hai mạn sủi bọt xèo xèo.
Mùi bùn đáy sông ngâm lâu năm bốc lên đặc quánh, tanh nồng như mùi ruột cá ươn phơi nắng giữa trưa hè.
Trên mạn thuyền bên tả, vệt bùn đen kết thành hai chữ “TRẢ NGƯỜI” vẫn bám chặt vào thớ gỗ mục rỗng. Từng giọt dịch đỏ quạch nhờn nhợt rỉ ra từ chân nét chữ, rỏ tong tỏng xuống mặt nước, loang ra thành những vệt chỉ máu dập dềnh không chịu tan.
Trên sàn cầu tàu gỗ nghiến nứt toác, hai mươi tên quân áp mạn của Đốc Vận Ty đứng dàn hàng ngang. Mũi đoản mác chĩa thẳng ra mặt sông, nhưng hai đầu gối bọn họ run lên bần bật khiến những vòng xích sắt trên nẹp ngực va vào nhau lách cách. Không một ai dám hạ mui thuyền tuần giang xuống nước, cũng không một kẻ nào dám thò đầu sào tre ra chọc thử vào con thuyền gỗ mục.
"Biên bản đâu? Mau ghi vào sổ!"
Một giọng quát đanh thép cất lên. Phó Đốc Vận Văn Trấn Uy đứng sừng sững trên mỏm bệ đá, vóc dáng vạm vỡ như tượng đồng trong chiếc áo nẹp da hươu thuộc kỹ sũng nước bùn. Trán hắn cao vuông vức, hằn sâu ba nếp nhăn như vết đao khắc; đôi lông mày lưỡi kiếm rậm rạp điểm lấm tấm sợi bạc ở đuôi mày chau lại thành một đường rãnh tối tăm giữa trán. Ngón tay cái bên tả của hắn liên tục xoay tròn chiếc nhẫn phỉ thúy xanh biếc to bản, miết mạnh vào những vết sẹo lồi do dây cáp sắt chém ngang mu bàn tay — di chứng của những năm tháng xông pha luồng lạch. Râu quai nón đanh thép ôm sát quai hàm bạnh bết đầy bọt bùn phù sa khô khốc.
Cách hắn nửa trượng, viên Đề lại áo chàm đang khom lưng sau chiếc bàn gỗ kê tạm ngoài thềm điếm. Hắn trạc ba mươi tuổi, sở hữu một khuôn mặt thanh tú khác thường: nước da trắng bệch như bột dong, sống mũi thon dài, đối lập rợn người với đôi mắt một mí dài hẹp, con ngươi đen nhánh và ươn ướt như mắt rắn. Lưng gù xuống, mười đầu ngón tay khẳng khiu dính đầy vệt mực nho tím than cào rào rào ngọn bút lông trên mặt giấy bổi ẩm mốc:
"Khởi bẩm quan lớn... Đã thảo xong. Quy vào mục: 'Giờ Tỵ ngày hai mươi mốt Chạp, dòng nước chảy xiết làm cát trôi rỗng đáy, xà lan số ba va phải chướng ngại ngầm, dây cáp sắt kéo bờ bị đứt làm lật thuyền, thất thoát một xà lan thóc'. Toàn bộ đều do dòng nước dữ, không có bóng dáng phản loạn hay phá hoại."
Văn Trấn Uy nhìn trừng trừng vào tờ giấy, cơ mặt giật nhẹ một nhịp:
"Ghi thêm: Viên Trưởng tuần bến Bùi thiếu kiểm tra độ mòn của dây cáp sắt, lơ là công cụ công xưởng, lập tức cách chức giam lỏng chờ nha môn xử lý."
Hắn dùng luật pháp và quy trình trần gian để đóng khung một vụ tai nạn sạt lở luồng lạch. Đó là phản xạ sinh tồn của một viên quan tứ phẩm đã ngửi thấy mùi đao trảm quyết treo trên đầu.
"Ối làng nước ơi! Cái xác... cái xác biến đâu mất rồi!"
Một tiếng thét thất thanh rách toạc cuống họng bỗng từ góc sân Điếm tuần dội ngược ra bãi sông.
Đám phu đò đang ngồi co ro trên bờ cát giật bắn người, nhốn nháo xô đẩy nhau chạy thốc về phía chái hiên lợp lá gối hạc. Văn Trấn Uy biến sắc, bàn tay đang xoay nhẫn ngọc siết chặt lại thành nắm đấm, sải bước nặng nề qua sàn cầu tàu xộc thẳng vào sân điếm.
Vương Quang tựa nửa thân người vào thanh Thiết Xích Khảo Sát, từng bước tập tễnh bước sát theo sau.
Gương mặt hắn gầy trơ xương quai hàm sắc nhọn như lưỡi đục, hai gò má hóp sâu xám ngoét. Vết mổ nơi xương quai xanh bên vai phải bị chèn ép từ sớm lại bắt đầu rỉ mủ vàng hòa lẫn máu khô, bết dính lớp vải chàm vào miệng thịt rách toạc; mỗi nhịp thở dốc khò khè kéo theo một cơn đau nhức buốt nhói như có ai cầm mảnh sành cào trên xương sống. Hắn nhổ một búng bã trầu cay gắt đã cạn vị xuống nền đất, mắt trái đen sâu hoang lạnh nhìn thẳng vào khoảng sân nện đất sỏi.
Dưới chân tường kho muối, chiếc chiếu cói dùng để bó thi thể Dịch phu Lục Đinh từ đêm qua đang nằm bẹp dí trên mặt đất.
Chiếc chiếu xẹp lép, mỏng dính như một mảnh vỏ bao tải rỗng. Bốn nút lạt đay buộc ngang thân chiếu vẫn còn thắt nút con sò chặt chẽ, không hề có dấu vết bị cởi hay bị dao cắt.
Viên Trưởng tuần bến Bùi mặt cắt không còn một giọt máu, hai bàn tay run lẩy bẩy cầm chiếc dao rựa phạt ngang một đường.
Xoạt!
Lạt đay đứt tung. Mép chiếu cói bở mục lật ngửa sang hai bên.
Bên trong hoàn toàn rỗng tuếch.
Cái xác bị chém ngang cổ của Lục Đinh đã biến mất tăm mất tích. Trên mặt chiếu lấm lem bồ hóng chỉ còn trơ lại một đoạn dây gai se ba sũng nước bùn đen — chính là đoạn dây mà mười ngón tay cứng đờ của người chết đã bặm chặt trên đỉnh Đèo Gió. Và rải rác quanh thớ dây thừng là một đống vảy cá xám xịt, to bằng đồng kẽm, nhầy nhụa chất nhớt tanh tưởi, bốc lên mùi hôi nồng nặc của bùn ngầm đáy vực.
Đám phu tuần đò sợ hãi lùi dạt ra sau, có kẻ nôn thốc nôn tháo xuống bờ rào nứa.
"Nhấc cái chiếu lên," Vương Quang cất giọng khô khốc.
Mũi thanh Thiết Xích Khảo Sát chỉ thẳng vào mép chiếu cói. Viên Trưởng tuần nuốt nước bọt cái ực, run rẩy thò hai ngón tay nắm lấy góc cói giật mạnh ra phía sau.
Chiếc chiếu cói rách bươm bị nhấc bổng lên.
Dưới nền đất nện khô khốc, cứng như đá của khoảng sân trạm dịch, hiện ra một cảnh tượng khiến tất cả những kẻ có mặt đều phải lạnh toát sống lưng.
Một vùng đất ướt sũng nước bùn đen in hằn sâu hoắm trên mặt đất nện, mang trọn vẹn đường nét của một thân người đàn ông nằm co quắp nghiêng sang bên tả.
Vết nước đen ngòm ấy ẩm ướt, nhầy nhụa, từng giọt nước lạnh buốt vẫn đang từ từ ứa ra từ các thớ đất khô cằn, bốc lên một làn hơi sương mỏng manh lạnh ngắt. Đầu, vai, lồng ngực gầy guộc và hai cẳng chân co quắp hiện lên rõ mồn một trên mặt sân, tựa như có một người vừa mới nằm ép xác vào lòng đất rồi tan biến vào trong ruột đá.
Chu Bá Cửu đứng sát sau lưng Vương Quang. Khuôn mặt chữ điền sạm nắng màu mật ong của gã tái mét, đôi lông mày rậm xếch ngược lên, hai hàm răng va vào nhau lập cập đánh bồm bộp. Dải vải đay đỏ buộc túm mái tóc đen dày ướt sũng mồ hôi lạnh, bắp tay cuồn cuộn gân xanh ôm chặt lấy thân xẻng sắt:
"Thầy... Thầy ơi... Người... người đã bị khiêng đi rồi... sao chỗ này vẫn còn rỉ nước thế này?"
Vương Quang không đáp.
Hắn bước lên nửa bước, dùng mũi ủng da trâu dẫm mạnh lên vùng đất ướt hình thân người.
Xoẹt.
Một luồng khí lạnh ngắt như kim châm lập tức xuyên qua lớp da trâu dày cộp, cắn buốt vào lòng bàn chân hắn. Vương Quang bặm môi, mũi thước sắt chọc nhẹ vào tâm ngực của vệt nước đen: nền đất bên dưới xốp mềm, nhờn nhợt, hoàn toàn không có cảm giác của đất nện sân kho thông thường.
Nếu Lục Đinh đã biến mất khỏi chiếc chiếu... vậy cái gì còn nằm lại dưới nền đất này?
Hắn không trả lời được. Hắn không gọi đó là hồn ma, cũng không gọi đó là âm vật. Một kẻ sống bằng biên bản và vật chứng như hắn chỉ thấy một khoảng trống rỗng kinh hoàng: thứ này không thể ghi chép bằng bất kỳ điều luật hay quy cách văn thư nào của nha môn.
Vương Quang lặng lẽ rút mũi thước lên, quay gót bước thụt lùi về phía chái kho muối.
Hắn cần kiểm tra lại một thứ.
Bước vào góc tối của gian kho ẩm mục, Vương Quang ngồi thụp xuống bên đống bao tải muối ẩm góc tường — nơi hắn giấu chiếc phong bì da hươu niêm sáp son “BÙI KHÊ THỦY ĐẠO” từ rạng sáng.
Bàn tay trái gạt lớp bao bì gai mục sang một bên, mắt hắn bỗng khựng lại.
Trên miệng bao muối ẩm có một vết rạch mỏng dính, ngọt sớt.
Vết rạch dài chừng nửa gang tay, đường cắt mỏng và đều, lực đi một mạch, khác hẳn những vết xé nham nhở của liềm hái hay dao rựa địa phương. Phong thư da hươu bên dưới vẫn còn nằm nguyên góc đáy — kẻ đột nhập dường như đang sục sạo tìm kiếm một chứng cứ cụ thể nào đó, nhưng vừa rạch bao thò tay vào thì lính tuần của Đốc Vận Ty bên ngoài ùa tới phong tỏa bến sông, khiến kẻ này phải rút êm trong tích tắc mà không kịp lấy đồ.
Và ngay trên mép sợi đay bị đứt, vướng lại một sợi chỉ tơ màu chàm pha ánh bạc.
Sợi tơ mảnh và dai khác thường. Loại chỉ này hắn từng thấy trên vài bộ lễ phục và áo công sai từ Kinh kỳ, nhưng không đủ để xác định thuộc nha môn nào.
Vương Quang nheo mắt trái, ngón tay nhặt sợi chỉ lên vê nhẹ, rồi nhét sâu phong bì da hươu vào lại trong nẹp áo ngực của mình. Hắn không suy đoán kẻ đột nhập là ai, già hay trẻ, quan chức hay mật thám. Hắn chỉ ghi nhận một sự thật lạnh người: Tại bến sông này, ngoài Đốc Vận Ty và nhóm của hắn, đã có một kẻ khác mang dấu vết Kinh kỳ đang âm thầm lần theo vụ việc.
Trời ngả dần về chiều.
Màn sương muối mùa đông bị một vệt nắng nhạt màu xé toạc, hắt xuống khúc bến Bùi một thứ ánh sáng vàng vọt, ảm đạm.
Gió bấc vẫn thổi từng cơn ràn rạt qua rặng thông đá sườn đông. Nước sông Bùi sau cú nổ ầm ầm ban trưa vẫn đầy ắp phù sa đỏ quạch, dập dềnh quanh mạn mười một chiếc xà lan chở thóc lương đang buộc dây chằng chịt vào các cọc neo trên bãi cát.
Vương Quang bước trở lại sân điếm tuần. Vùng đất ướt in hình thân người dưới chân tường kho vẫn ở đó. Nắng chiều hanh hao không thể làm khô nổi một giọt nước bùn đen; nó vẫn rỉ ra từng tia nước lạnh ngắt, sẫm màu hơn cả lúc ban sáng.
Hắn tập tễnh bước ra mép sàn cầu tàu gỗ nghiến, đưa mắt nhìn xuống dòng chảy cuộn sóng dưới chân.
Văn Trấn Uy cùng toán lính hộ vệ áo nẹp sắt đang đứng cách hắn mười bước chân. Bóng của họ đổ dài trên sàn gỗ nghiến, những nét cắt của vạt áo da hươu, bao kiếm và nón dấu sơn then in đen thẫm trên mặt ván.
Thế nhưng, khi nhìn xuống dòng nước sông Bùi ngay bên dưới sàn thuyền, mặt sông hoàn toàn không có bóng người.
Mặt nước đỏ ngầu phù sa phẳng lặng một cách quái đản như một phiến gương đồng đen kịt bị bôi mỡ cá. Không có bóng chiếc thuyền tuần giang đồ sộ. Không có bóng hàng cọc gỗ lim nhô lên lởm chởm. Không có bóng của những tên lính tuần đang lăm lăm giáo mác.
Mặt nước nuốt trọn mọi hình hài của cõi sống trần gian.
Vương Quang cúi đầu nhìn xuống khoảng nước ngay sát mép ủng của mình. Hắn thấy bóng mình in mờ nhạt trên một gờ đá vôi ẩm ướt; Chu Bá Cửu đứng cạnh cũng có một cái bóng gầy guộc run rẩy trên mặt cát.
Nhưng ngay cạnh bóng của Vương Quang, chìm sâu dưới làn nước đỏ ngầu chừng nửa trượng cạnh mạn chiếc thuyền thứ mười ba, bỗng nổi lên một cái bóng thứ ba.
Đó là bóng của một người đàn ông mặc áo vải nâu thô rách bươm một bên vai.
Vai lệch sang một bên. Cổ nghiêng hẳn sang hữu theo một góc gãy gập gớm ghiếc. Nhưng khuôn mặt của cái bóng hoàn toàn nhẵn thín, tối om, không có mắt mũi miệng, tựa như một mảng mực loang dưới đáy nước.
Vương Quang giật mình, lập tức ngoái đầu nhìn lại bãi cát phía sau lưng.
Trên bờ chỉ có đám phu đò áo chàm rách nát, đám lính tuần mặc giáp da và Chu Bá Cửu. Tuyệt đối không có một ai mặc chiếc áo vải nâu thô rách vai như thế.
Hắn quay phắt đầu lại nhìn xuống mặt nước.
Cái bóng áo nâu không còn đứng dưới nước nữa.
Nó đang ngồi bất động trên khoang chiếc thuyền thứ mười ba, hai tay buông thõng xuống mạn thuyền gỗ mục, cái cổ ngoẹo sang một bên hướng thẳng về phía cầu tàu.
Vương Quang siết chặt thanh thước sắt trong tay trái đến mức khớp ngón tay trắng bệch. Tim hắn đập dồn dập những nhịp khô khốc. Thực tại tự thay đổi ngay giữa hai lần chớp mắt, không hề có một tiếng động báo trước.
Xoạt... rột...
Một âm thanh nhớp nháp bỗng vang lên từ mép đá dưới chân cầu tàu.
Từ mép nước nơi mũi chiếc thuyền thứ mười ba hướng thẳng vào bờ, từng vệt bùn đen rỉ giọt nước đỏ quạch đang từ từ trườn qua những khe đá tai mèo. Thứ bùn nhão quánh ấy tự kết thành những dải dài chừng một gang tay, bò chầm chậm ngược con dốc cát ẩm ướt, nhắm thẳng về phía cửa chái kho muối.
"Vương Ký lục."
Một bàn tay đeo nhẫn ngọc thô bạo túm lấy bả vai trái của Vương Quang, giật mạnh hắn về phía sau.
Văn Trấn Uy đứng sừng sững, đôi mắt hổ phách vằn đỏ những tia máu, hơi thở phả ra nồng nặc mùi rượu mạnh:
"Vào trong kho. Ngay!"
Cánh cửa nách chái kho muối đóng sập lại, ngăn cách làn gió đông buốt giá.
Văn Trấn Uy đứng tựa lưng vào đống bao muối vỡ miệng, ngón tay cái bên tả miết đi miết lại trên chuôi trường kiếm da cá đuối phát ra những tiếng ken két rợn người. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn sáp trẩu leo lét trên vách đá chỉ đủ soi rõ nửa khuôn mặt xám xịt của hắn.
"Khối đá bị đào bẩy trên đỉnh Đèo Gió... và hàng cọc gỗ lim dưới đáy sông này," Văn Trấn Uy cất giọng nặng trịch, đôi mắt hổ phách xoáy thẳng vào mặt Vương Quang: "Rốt cuộc chúng có liên hệ gì với nhau?"
Vương Quang tựa nửa thân người vào thanh Thiết Xích Khảo Sát, lồng ngực phập phồng những nhịp thở ran rát. Mắt phải của hắn giật nhẹ một cơn nhức buốt, nhưng hắn tuyệt đối không để lộ sự dao động. Hắn giữ chặt ranh giới trắc đạc cơ học của mình.
"Bẩm quan lớn," Vương Quang cất tiếng, giọng bình thản đến lạnh lùng: "Hạ quan chỉ là kẻ ghi chép cao trình và địa mạo, không biết chuyện thần thánh hoang đường. Những gì hạ quan nhìn thấy, chỉ có số liệu và dấu vết vật chất."
Hắn bước tới chiếc bàn gỗ kê góc kho, trải cuộn bản đồ Thác Khói đã lấm lem vết máu khô ra mặt bàn, ngón tay trỏ chấm vào các đường mực vẽ địa tầng:
"Tại vách đá Thác Khói và đỉnh Đèo Gió, có kẻ đã dùng thuốc nổ đen và nêm thép bửa toạc những cọc đá cắm sâu vào mạch đá vôi. Dưới đáy sông này, hàng cọc gỗ lim khắc chữ cũng được đóng ngàm vào nền đá ngầm theo một tuyến thẳng tắp, liên kết với nhau bằng xích đồng. Dưới chân cọc chữ 'MÔN' có một khối chuông đồng đúc rỗng nằm chèn chặt khe nứt, bên dưới đó là một khoảng rỗng có dòng nước hút qua."
Vương Quang ngước mắt nhìn thẳng vào Văn Trấn Uy:
"Từ lúc cọc bị nhổ, dòng nước đổi hướng. Bên dưới còn khoảng rỗng hoặc một kết cấu nào đó đang hút nước. Nền cát đệm trôi tuột khiến xà lan lương mất thăng bằng. Hạ quan chỉ quan sát được hiện trạng vật lý đến đó, chưa biết khoảng rỗng ấy nối tới đâu, và càng không đủ dữ liệu để kết luận hàng cọc ban đầu được dựng lên vì mục đích gì."
Văn Trấn Uy nghiến răng, trán nổi đầy gân xanh:
"Chưa đủ dữ liệu? Con thuyền gỗ tạp đen sì ngoài kia đang trôi ngược dòng nước lũ! Trên mạn thuyền nó đòi 'TRẢ NGƯỜI'! Thằng Lục Đinh chết rồi mà xác biến mất thành vảy cá, để lại vệt nước đen không chịu khô ngoài sân kia kìa! Ngươi bảo bản quan phải viết vào sổ bộ gửi về Kinh kỳ thế nào? Viết là dòng sông biết đòi mạng hay sao?!"
Hắn bước dồn một bước tới sát ngực Vương Quang, mùi mồ hôi chua nồng lẫn với mùi dầu trẩu bốc ra từ nẹp da trên người hắn toát lên một nỗi hoảng loạn bị kìm nén đến cùng cực:
"Hạn chót là giờ Thìn ngày mai! Ba vạn hộc thóc lương này không cập bến Nam Đinh trước ngày hai mươi ba tháng Chạp, cái đầu của bản quan sẽ rơi xuống đất! Cả nhà bản quan ba đời làm quan vận lương sẽ bị đày ra biên viễn! Ngươi có hiểu bản quan đang phải đối mặt với cái gì không?!"
Vương Quang nhìn sâu vào đôi mắt hổ phách vằn máu của viên quan cấp Phủ:
"Hạ quan hiểu. Nhưng gươm giáo của quan lớn không chém được dòng nước. Muốn đoàn thuyền lương đi qua bến này, trước hết phải làm cho chiếc thuyền thứ mười ba kia dời đi."
Văn Trấn Uy nghẹn lời. Bàn tay đang siết chuôi kiếm của hắn run lên bần bật, rồi chầm chậm buông lỏng ra. Ánh mắt hắn lóe lên sự quyết đoán tàn nhẫn của một viên quan đang dốc toàn bộ sinh mạng chính trị vào canh bạc cuối:
"Canh ba đêm nay, bản quan sẽ cho toàn bộ thuyền lương nhổ neo. Cọc ngoài luồng phải dời được thì dời. Chướng ngại nào cản đường vận lương, bản quan chịu trách nhiệm xử lý."
Đêm ngày hai mươi mốt rạng sáng ngày hai mươi hai tháng Chạp buông xuống bến Bùi như một tấm màn liệm đen kịt.
Sương mù từ hẻm vực Thác Khói tràn xuống bến sông, mang theo một màu đỏ quạch nhờn nhợt như máu loãng hòa vào nước mưa. Gió bấc rít từng hồi qua những rãnh cọc lim trơ trọi giữa dòng nước cuộn sóng. Không một con đóm đóm nào bay qua bãi cát; không một tiếng côn trùng nào cất lên trong đêm đông căm căm.
Trên chiếc xà lan chở lương số một neo sát mép cầu tàu, một gã phu tuần đò mặc áo tơi lá sũng nước đang đứng tựa vào cột buồm gác đêm. Tay gã cầm một ngọn đoản giáo rỉ sét, ánh mắt đờ đẫn nhìn vào khoảng sương mù mịt mùng phía trước.
Gió lạnh tạt qua ràn rạt.
Đột nhiên, từ khoảng không mờ mịt ngay sát mạn thuyền, một tiếng thì thào khô khốc cất lên:
“Lục Đinh…”
Gã phu đò giật bắn người, xoay phắt ngọn giáo ra phía sau: "Ai đó?"
Bên mạn thuyền trống hoác. Chỉ có tiếng nước vỗ bì bõm vào be gỗ.
Một nhịp thở trôi qua. Tiếng gọi lại vang lên lần thứ hai, lần này sát ngay bên vành tai gã, lạnh ngắt như có tảng băng áp vào da thịt:
“Lục Đinh…”
Gã phu đò nuốt khan một búng nước bọt tanh nồng, đôi mắt mở trừng trừng nhìn vào màn sương đỏ quạch, cất giọng run rẩy nhưng rành rọt:
"Tôi... Tôi không phải Lục Đinh."
Nói xong câu ấy, bàn tay thô ráp của gã buông lỏng ra.
Cạch.
Ngọn đoản giáo sắt rơi cắm phập xuống sàn gỗ kiền kiền.
Gã phu đò không cúi xuống nhặt giáo. Gã xoay người, bước từng bước đều đặn, vô hồn và cứng đờ ra mép mạn xà lan. Không chần chừ, không sợ hãi, gã bước hụt một bước xuống khoảng không đen ngòm.
TÕM!
Thân hình gã chìm nghỉm ngay tức khắc vào dòng nước lũ đỏ quạch dưới chân chiếc thuyền thứ mười ba. Không một tiếng kêu cứu, không một cánh tay nào quẫy đạp trồi lên mặt nước.
"Có người nhảy sông! Vớt người! Mau vớt người!"
Tiếng hò hét hoảng loạn của đám phu thuyền trên boong xé toạc màn đêm. Bốn năm chiếc sào tre bịt sắt cùng dây thừng lập tức được phóng xuống nước. Nhờ dòng nước xoáy quẩn quanh mạn thuyền kiền kiền, một gã phu lặn lực lưỡng đã móc được mũi sào vào quai áo tơi của kẻ vừa nhảy xuống, hợp sức cùng đám lính tuần kéo giật ngược hắn lên sàn cầu tàu gỗ nghiến.
Nước sông đỏ ngầu chảy ròng ròng từ vạt áo tơi lá xuống mặt ván.
Gã phu đò nằm sõng soài trên sàn gỗ. Toàn thân gã lạnh toát như một tảng đá ngâm đáy giếng, da thịt tím tái không còn một giọt máu.
Thế nhưng, gã không hề bị sặc nước ngất lịm.
Đôi mắt của gã vẫn mở trừng trừng, con ngươi co rút lại thành hai chấm đen nhỏ xíu nhìn thẳng lên bầu trời đêm đỏ quạch sương muối.
Vương Quang cùng Văn Trấn Uy rảo bước chạy tới, đám lính tuần lăm lăm ngọn đuốc vây kín xung quanh. Ánh lửa bập bùng soi rõ hai hàm răng của gã phu đò đang cắn chặt vào nhau, run lên bần bật từng chặp.
Văn Trấn Uy túm lấy cổ áo gã giật mạnh:
"Mày phát điên cái gì thế hả?! Ai xui mày nhảy xuống sông?!"
Gã phu đò không nhìn Văn Trấn Uy. Ánh mắt dại đi của gã chầm chậm đảo sang, dừng lại ngay trên khuôn mặt gầy guộc của Vương Quang.
Đôi môi tím ngắt của gã khẽ mấp máy, nhả ra từng bọt bùn đen lẫn với nước đỏ quạch, cất lên một thanh âm khàn khê như tiếng đất nứt:
"Dưới đó... đông người lắm."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.