Nhân Gian Có Màn

Chương 126: Người Thợ Còn Nhớ

Đăng: 08/10/2026 12:38 4,305 từ 18 lượt đọc

Tiết trời đầu giờ Mão, ranh giới giữa đêm và ngày ở vùng hạ lưu sông Bùi chỉ là một dải sáng màu xám chì mỏng dính rách toạc nơi chân trời phía đông.

Mưa dầm đã ngớt thành từng hạt bụi nước li ti, nhưng sương mù từ bãi bồi dâng lên đặc quánh như cháo loãng, ngậm đầy hơi nước buốt giá của dòng lũ đang cuồn cuộn chảy ngoài xa. Mặt đê Bùi Khê nhão nhoét sau một đêm bị nước mưa cày xới, bùn đất thịt đỏ quạch dính chặt lấy đế giày vải, mỗi bước nhấc chân lên đều nghe tiếng nhẹp... nhẹp... dính dớp, nặng như chì đúc.

Vương Quang bước đi chậm rãi bên triền đê.

Ống tay áo bên phải của hắn vẫn được buộc túm lại bằng dải dây gai thô ráp. Sau một đêm ngồi bên lò than trong phòng Giá khố, khớp cổ tay phải đã bớt giật, nhưng cái lạnh thấu xương của sương sớm lại bắt đầu gặm nhấm vào vết sẹo nạo xương năm cũ. Cơn đau không dữ dội như lúc ở tâm xoáy nước, mà âm ỉ, dằng dặc, như một dải kim băng luồn lách dọc theo kinh lạc cánh tay. Hắn đưa tay trái ra giữ chặt lấy bao vải bọc thanh Thiết Xích Khảo Sát đeo bên hông, ngón tay cái kẹp lấy mép áo tơi để chắn gió lùa vào lồng ngực.

Chu Bá Cửu đi sát phía sau, vai khoác chiếc hòm đồ nghề trắc địa bọc da cá đuối, tay xách chiếc giỏ mây con đựng mấy củ gừng nướng vùi tro và chiếc âu đồng đã nguội lạnh. Thằng bé chốc chốc lại đưa mắt nhìn bước chân của thầy mình, thấy Vương Quang đi vững vàng mới khẽ thở phào một hơi.

Thanh Diệp đi trước hai người chừng nửa trượng.

Nàng khoác chiếc áo tơi tráng nhựa đường đen nhánh, vạt áo dài phủ qua gối, chân xỏ đôi ủng da trâu cổ cao chuyên dùng cho tuần đinh lội bùn. Đoản kiếm bên hông nàng được giấu kín dưới lớp tơi dày, chỉ để lộ chiếc bao tay thuộc da màu nâu sẫm nơi bàn tay phải. Đi kèm phía sau là viên lại dịch già của phòng Địa bạ — một người họ Bùi, đầu quấn khăn vuông đen, tay cầm chiếc gậy tre đực dò đường, lưng còng rạp dẫn lối xuống con dốc đất thoai thoải dẫn về bãi bồi làng Thượng Bùi.

"Bẩm quan lớn... bẩm Ngự sử đại nhân," viên lại dịch họ Bùi thở dốc ra từng luồng khói trắng, chỉ đầu gậy tre về phía một dải rặng tre gai còi cọc mọc chen chúc giữa bãi phù sa ngập nước: "Xóm Tang Mộc nằm ngay mép lạch đấy ạ. Dân xóm này từ ba đời trước chuyên làm nghề ủ bùn ngâm gỗ dâu cho các xưởng đóng thuyền và thợ dựng kè của triều đình. Mùi bùn ở đây tanh nồng lắm, người lạ bước vào không quen là lợm giọng ngay."

Gió bấc thổi thốc từ bãi bồi lên, mang theo một mùi hăng nồng kỳ quái.

Đó không phải mùi bùn sông thông thường. Nó là sự pha trộn giữa mùi thối ngấu của lá dâu mục ngâm lâu năm, mùi chát của nhựa cây tang mộc rữa nát dưới đáy bùn yếm khí, và mùi tanh lợm của mỡ trâu thối mà dân thợ mộc dùng để quét chống mối mọt.

Trước mắt họ, hàng chục chiếc hố đất sâu hoắm được đào ngay mép nước ngập phù sa. Trong lòng hố, những thân gỗ dâu to bằng cột đình đen sì sì nằm xếp lớp dưới lớp nước đỏ quạch, chỉ nhô lên những chiếc cọc tre cắm mốc định vị.

Nằm chơ vơ sát mép lạch nước ngầm là một túp chòi rách nát.

Mái chòi kết bằng rạ mục và lá dừa nước đã ngả màu xám xịt, vách trát bùn trộn rơm bắp tróc từng mảng lớn để lộ những thanh tre đực mốc meo. Trước cửa chòi, một đống mẩu gỗ vụn màu tím đen chất cao ngang ngực, rêu xanh phủ kín các đầu mộng đẽo nham nhở.

"Lão Cả Đoan ở trong chòi đấy ạ," viên lại dịch dừng bước cách cửa chòi mười bước, cất giọng e dè: "Tính lão gàn dở lắm, từ ngày vợ con chết trong trận dịch năm Vĩnh Khánh thì dọn hẳn ra đây ở một mình, cả tháng chẳng nói với ai nửa câu, chỉ bầu bạn với mấy khúc gỗ dâu ngâm."

Thanh Diệp không chần chừ, bước thẳng tới bậc cửa đất nhão nhoét. Nàng không dùng uy thế của quan Ngự sử để quát tháo, chỉ dùng chuôi gậy tre gõ nhẹ lên tấm liếp nứa ba tiếng cộc... cộc... cộc.

Tấm liếp nứa khẽ rung lên, bụi rạ mục rơi lả tả xuống thềm đất.

Bên trong chòi tối om, chỉ le lói ánh đỏ từ một chiếc bếp trấu un khói cay sè. Phải mất một lúc lâu, một chuỗi âm thanh lệt bệt mới vang lên, kèm theo tiếng ho rũ rượi, đùng đục như tiếng bễ lò rèn thủng gió.

Tấm liếp bị một bàn tay đẩy lệch sang bên.

Một bóng người còng gập bước ra thềm.

Lão Cả Đoan ngoài bảy mươi tuổi, vóc dáng khẳng khiu như một khúc củi ngâm bùn lâu năm bị vớt lên phơi nắng. Lão mặc chiếc áo tơi lá tước rách tả tơi, bên trong phong phanh manh áo vải thô nhuộm vỏ bàng chằng chịt những mảng vá bằng chỉ gai. Đôi bàn chân lão to bè, các ngón chân tõe ra bám chặt lấy bùn đất, móng chân đen đúa, nứt nẻ thành những rãnh sâu bết chặt đất sét đỏ.

Đáng sợ nhất là đôi bàn tay của lão.

Các đốt ngón tay sưng to gồ ghề như những mắt tre già, da bàn tay chai sạn thành từng mảng dầy cộp màu nâu sẫm, tróc vảy từng vệt dài do tiếp xúc với nước vôi và bùn ngâm gỗ dâu suốt mấy mươi năm. Đôi mắt lão đục ngầu, màng mộng thịt che khuất nửa con ngươi, nheo lại đầy vẻ cảnh giác khi nhìn thấy chiếc áo tơi đen của Thanh Diệp và bóng dáng quan chức nha môn.

"Ai đấy?" Giọng lão khàn đặc, khô khốc và rè rè như tiếng dăm bào cọ trên thớ gỗ nghiến: "Nha môn lại đòi cọc dâu hộ đê à? Đã bảo rồi... gỗ đợt này mới ngâm được ba mùa nước, lõi chưa ngấu, đem ra đóng kè lũ nó xé toạc ngay... Đừng có ép ông già này ký giấy xuất gỗ!"

Viên lại dịch họ Bùi vội bước lên: "Lão Cả! Mở mắt ra mà nhìn! Quan trên Đô Sát Viện và Khâm Thiên Giám từ Kinh thành về thẩm tra việc bến đò sạt lở hôm qua, không phải bọn ta đòi gỗ đâu!"

Lão Cả Đoan nghe thấy ba chữ "Khâm Thiên Giám", đôi lông mày bạc phếch lởm chởm khẽ giật giật. Đôi mắt mờ đục của lão chậm rãi quét qua người Thanh Diệp, rồi dừng lại thật lâu trên thân hình gầy guộc của Vương Quang.

Ánh mắt lão dừng lại ở bàn tay phải quấn vải gai và thanh Thiết Xích Khảo Sát kẹp bên hông hắn.

Lão không quỳ, cũng không lạy. Lão già sống gần trọn một đời bên mép nước dường như đã chai sạn với mọi loại quan quyền trần thế. Lão khịt mũi một cái, nhổ toẹt một bãi nước bọt vàng khè xuống rãnh bùn:

"Hôm qua bến sạt rồi à? Mười bảy mạng kéo tời chìm lỉm rồi chứ gì?"

Thanh Diệp nheo mắt: "Ngươi ở bãi bồi cuối làng, làm sao biết hôm qua có mười bảy người chết đuối?"

Lão Cả Đoan cười khẩy, để lộ hàm răng rụng gần hết chỉ còn trơ vài chiếc răng cửa ám khói thuốc lào đen kịt:

"Cần gì phải nhìn mới biết? Nước sông Bùi này chảy trong ruột ta sáu mươi năm nay rồi. Chiều qua, đúng giờ Thân, dòng nước ngầm dưới lạch bỗng nhiên réo lên ba tiếng ụt... ụt... ụt, bọt nước sủi lên vàng ệch như mỡ trâu thối. Cái họng cọc dâu dưới bến đò há miệng rồi. Năm nào nó há miệng mà chẳng nuốt người? Lạ lùng gì cái thứ ấy nữa mà hỏi với han."

Vương Quang bước lên nửa bước. Hắn ra hiệu cho viên lại dịch họ Bùi lùi lại phía sau, rồi tự mình đứng đối diện với lão thợ già.

Hắn không hỏi về luật pháp, không hỏi về tấu chương triều đình. Hắn cúi đầu nhìn đống mẩu gỗ vụn trước cửa chòi, rồi dùng tay trái chỉ vào một mẩu gỗ vát hình chêm:

"Mộng mang cá tám góc. Cạnh xẻ rãnh âm sâu ba phân."

Lão Cả Đoan sững sờ. Đôi mắt đục ngầu của lão bỗng mở to ra một chút, nhìn xoáy vào mặt Vương Quang:

"Ngươi... ngươi nhìn ra được lối mộng này?"

"Ta thấy nó dưới lòng sông hôm qua," Vương Quang bình thản đáp: "Tang mộc ghép kín khít, không có vết nêm đinh sắt."

Lão Cả Đoan khẽ thở hắt ra một hơi, giọng lão chùng xuống mang theo chút kiêu hãnh của phường thợ:

"Đương nhiên không được nêm đinh sắt! Tang mộc ngâm bùn đủ nước thì đao chém không mẻ, ngâm dưới đáy trăm năm không mục rữa, nhưng kỵ nhất là sắt nhọn. Đóng một cái đinh sắt vào là thớ dâu nứt toác theo gân, nước ngấm vào làm ruỗng tim cọc ngay. Toàn bộ đài cọc dâu dưới bến xưa nay đều phải ăn bằng mộng mang cá vát góc, bọc vải gai quét nhựa trám."

Lão nheo mắt nhìn Vương Quang: "Hôm qua ngươi nhìn thấy nó ở cự ly nào?"

"Trước khi con nước cường dâng ngập, ta đã bò ra đầu giàn tre trắc địa," Vương Quang nói: "Lỗ mộng vuông ở tâm đài trống hoác. Thành mộng có bốn vết trượt xoắn ốc lún sâu nửa phân. Dưới đáy một trượng rưỡi có một phiến kim loại đúc. Một mắt xích đồng đúc liền bị kéo giãn dính vào thước thép của ta... trên thân mắt xích có một vết cưa sắt dở nông chừng ba phần."

Nghe đến mấy chữ "vết cưa sắt nông ba phần", hai bờ vai khẳng khiu của lão Cả Đoan bỗng run bắn lên.

Lão lùi lại nửa bước, bàn tay sần sùi bấu chặt vào tấm liếp nứa bên cạnh, hơi thở dồn dập:

"Vết cưa... vết cưa vẫn còn ở đó... Mười chín năm rồi... nó vẫn chưa đứt hẳn..."

Thanh Diệp lập tức bước lên, giọng nàng đanh thép nhưng không bức bách:

"Cả Đoan. Năm Bảo Thái mười tám, khi đài cọc dâu bị hỏng và sáu người vô danh bị chìm xác dưới bãi cát hạ lưu, ngươi là người chèo thuyền đưa người ra giữa dòng. Ngươi biết ai đã mang cưa sắt xuống chân cọc."

Lão Cả Đoan ngồi thụp xuống bậc thềm đất nhão, hai tay ôm lấy đầu gối, đầu rũ xuống ngực. Làn khói bếp trấu từ trong chòi bay ra cay xè, bao phủ lấy thân hình còng gập của lão thợ già.

"Bảo Thái mười tám... hay mười chín... ta chẳng nhớ niên hiệu của các quan đâu," lão lẩm bẩm, giọng khàn khàn lẫn trong tiếng gió bấc rít qua rặng tre: "Ta chỉ nhớ mùa hè năm ấy nước sông dâng sớm. Nước đỏ ngầu phù sa nhưng lòng sông chưa có lũ lớn..."

Lão ngẩng khuôn mặt nhăn nheo lên nhìn Vương Quang:

"Đài cọc dâu tám góc đó không phải do dân làng Bùi dựng lên. Từ thời ông nội ta đẻ ra, nó đã nằm im lìm dưới đáy sông rồi. Ở giữa đài ghim một cái then vuông bằng đồng thau nặng tám mươi cân. Phường thợ sông chúng ta đời đời chỉ gọi cái then ấy là 'Đinh Giữa'."

Lão run rẩy giơ ngón tay khẳng khiu chỉ xuống rãnh bùn:

"Các cụ chỉ dạy lại đúng một điều: Đài cọc quanh chân có thể đóng cọc phụ, kè đá có thể rải thêm, nhưng tuyệt đối không ai được phép động vào cái Đinh Giữa. Động vào nó thì nước dưới đáy đổi đường. Đổi đường thế nào, chạy đi đâu, người thợ chúng ta không ai biết. Chỉ biết từ trước tới nay người già cấm tiệt, chưa từng có ai dám thử."

"Vậy tại sao mười chín năm trước người ta lại tháo nó?" Thanh Diệp hỏi dồn.

Lão Cả Đoan cười khẩy một tiếng khô khốc:

"Năm ấy, có người từ trên tỉnh kéo về bến đò. Họ mang theo công văn có dấu đỏ của Thủy Đạo Ty, bảo là về khảo sát để lập án kè đá hộc của triều đình. Nha môn huyện Bùi Khê phải mổ lợn thết đãi."

"Trong đoàn đó có ai?" Vương Quang hỏi.

"Có quan trắc thủ mặc áo xanh, có nha lại mang tráp mực... Nhưng những kẻ ấy chỉ đứng trên bờ đê giương kính, cầm thước ngắm nghía," lão Cả Đoan nheo mắt lại, lục tìm mảnh ký ức cũ: "Người thực sự ra lệnh... người bảo tháo then... lại không phải đám quan mặc áo xanh ấy."

Vương Quang khẽ nhíu mày: "Người đó thế nào?"

"Hắn không mặc quan phục," lão Cả Đoan lắc đầu, ngón tay cấu chặt vào lớp bùn bám trên đầu gối: "Hắn mặc một bộ áo dài vải thô nhuộm chàm, bên ngoài khoác áo tơi lá tơi tả như dân chài lưới. Nhưng bàn tay hắn... bàn tay hắn trắng trẻo, ngón tay thon dài, tuyệt đối không phải tay của kẻ kéo lưới hay ngâm bùn."

"Hắn đi cùng ai?" Thanh Diệp gặng hỏi.

"Hắn dẫn theo sáu người," lão Cả Đoan hạ thấp giọng, thì thào: "Sáu người đó không phải dân vùng Bùi Khê này. Bọn chúng nói cái giọng trọ trẹ, líu lo, hình như là dân xứ biển Đồ Sơn hay mạn cửa sông phía dưới. Bọn chúng lùn tịt, ngực nở nang, tai xâu lỗ to tướng, da đen nhẻm và sực mùi mỡ cá voi. Bọn chúng lặn nước rất giỏi, ngậm một cọng sậy rỗng mà có thể lặn ngụp dưới đáy nước xiết rất lâu mới ngoi lên."

Vương Quang cúi đầu nhìn dải vải gai siết chặt cổ tay mình.

Sáu người ăn thừa gạo trong sổ kho của Huyện nha. Họ là nhóm thợ lặn từ vùng cửa sông được đưa về bến Bùi.

"Người mặc áo chàm đó đã làm gì?" Vương Quang hỏi tiếp.

"Hắn thuê thuyền nan của ta," lão Cả Đoan nhớ lại: "Đêm ngày mười chín tháng Bảy... lúc ấy nước sông chưa dâng cao, dòng chảy còn tương đối êm. Hắn bảo ta chèo thuyền đưa hắn và sáu người thợ lặn ra neo ngay trên đầu đài cọc dâu. Hắn mang theo hai chiếc hòm gỗ dài bọc da dầu rái. Khi mở hòm ra... ta thấy hai lưỡi cưa bằng thép sáng loáng, răng cưa sắc lẹm, bôi đặc mỡ cá voi."

Lão Cả Đoan nuốt một ngụm nước bọt:

"Ta sợ quá, ta van hắn trên thuyền. Ta bảo: 'Cái đài cọc dâu này là đồ cấm kỵ của tiền nhân, cái then đồng ở giữa ghim vào đáy sông, cưa xích tháo then là nước dưới đáy trở chứng, vỡ đê thì khốn!' Nhưng hắn gạt đi."

"Hắn nói sao?" Thanh Diệp bước sát lại mép thềm.

Lão Cả Đoan ngước đôi mắt đục ngầu nhìn về phía bãi bồi sương phủ:

"Hắn bảo dưới cái then này chẳng có thần thánh gì hết. Hắn nói dưới đó có một đường cống cổ bị lấp từ rất lâu rồi, người xưa cắm then đồng ở đây là để ngăn nước không chảy về cống Luy Lâu. Có phải thật thế không thì ta chịu, hắn nói thế nào ta chỉ biết nhớ thế ấy. Hắn vứt cho ta năm quan tiền kẽm, dọa ta ngậm miệng lại mà chèo thuyền giữ lái, hé răng nửa lời là hắn dìm xuống sông."

Vương Quang đứng lặng giữa màn sương sớm.

Ngăn nước không chảy về cống Luy Lâu.

Một câu nói thốt ra từ miệng người mặc áo chàm mười chín năm trước rơi vào tâm trí Vương Quang.

Hắn nhớ lại đoạn xích đồng neo cổ chân xác chết dưới cống ngầm bến Hát. Nhớ cuốn sổ có bốn chữ "Bùi Khê khuyết đinh". Nhưng hắn tự ghìm dòng suy nghĩ lại. Một người mặc áo chàm nói như vậy mười chín năm trước không có nghĩa lời hắn nói là chân lý khách quan. Đó có thể là nhận định riêng của hắn, có thể là sự ngộ nhận, hoặc chỉ là một cái cớ để trấn áp đám phu chèo đò chung quanh. Chưa có chứng cứ vật chất nào xác nhận đài cọc Bùi Khê và cống Luy Lâu cùng thuộc một hệ thống thủy đạo ngầm.

"Sau đó sáu người kia làm gì?" Thanh Diệp hỏi.

"Họ thay phiên nhau lặn xuống nước," lão Cả Đoan run giọng: "Họ dùng dây mây buộc chặt người vào cọc gỗ dâu, cầm cưa thép lặn xuống chân đài bát giác. Ta ngồi trên mạn thuyền cầm chèo... Ta nghe thấy tiếng cưa sắt cọ vào mắt xích đồng dội ngược lên qua đáy thuyền: Kèn kẹt... kèn kẹt... Tiếng kêu ghê rợn rợn người trong đêm tối."

Lão thợ già ôm chặt lấy hai bả vai gầy guộc, co rúm lại:

"Họ cưa suốt nửa đêm. Mắt xích đồng dày quá, cưa gãy mất một lưỡi thép, mỡ cá voi nổi váng bồng bềnh lên mặt nước. Đến gần sáng, khi lưỡi cưa thứ hai mới ăn sâu vào mắt xích chừng ba phần... thì dưới đáy đột nhiên xảy ra biến sự."

"Biến sự gì?" Vương Quang hỏi.

"Lúc đó nước sông trên mặt chưa hề dâng lũ," lão Cả Đoan lắc đầu quả quyết: "Nhưng từ trong cái lỗ mộng vuông ở tâm đài bát giác... một luồng nước ngầm đen ngòm bỗng nhiên phun ngược lên mặt sông! Dòng nước ấy lạnh buốt, bốc lên mùi hôi của bùn ngấu và tanh tưởi mỡ cá ươn."

Lão mở to đôi mắt mờ đục:

"Một người thợ lặn dưới đáy giật mạnh dây mây xin kéo lên. Nhưng chưa kịp kéo... thì dưới lỗ mộng rỗng phát ra một tiếng khục nặng trịch. Một dòng xoáy xuất hiện trong chớp mắt. Sợi dây mây căng bựt ra rồi đứt lìa."

Lão Cả Đoan run rẩy thì thào:

"Cả sáu người thợ lặn... không một ai trồi lên mặt nước nữa. Nước xoáy hất tung chiếc thuyền nan của ta dạt vào bãi bồi. Người mặc áo chàm đứng trên mũi thuyền nhảy vội lên bờ đất, mặt cắt không còn giọt máu. Hắn vứt lại chiếc hòm đựng cưa, cắm đầu cắm cổ chạy ngược lên mặt đê biến mất vào màn đêm."

Căn chòi lá rơi vào một sự im lặng ngột ngạt.

Chỉ còn tiếng gió bấc rít qua các khe liếp nứa và tiếng thở dồn dập của lão thợ già.

Chu Bá Cửu đứng bên cạnh nghe mà mặt mày tái mét. Thằng bé nhìn sang Vương Quang, thấy thầy mình vẫn đứng yên, ánh mắt nhìn xoáy vào đống gỗ vụn ngâm bùn trước cửa chòi.

"Hắn chạy trốn..." Thanh Diệp cất tiếng, phá vỡ khoảng lặng: "Còn chiếc then đồng ở tâm đài thì sao?"

Lão Cả Đoan lắc đầu, vẻ mặt đầy bàng hoàng:

"Ta không biết nó biến đi đằng nào. Khi luồng nước đen phun lên, dòng xoáy cuộn xiết quanh thân cọc dâu. Sáng hôm sau, khi nha môn huyện kéo ra bến đò... thì lỗ mộng đã trống hoác, và chân kè bắt đầu sụt lở từng mảng lớn."

Hồ sơ, lời kể và vật chứng lúc này đã chỉ về cùng một khoảng thời gian: mười chín năm trước từng có người chủ động can thiệp vào đài cọc. Sáu thợ lặn mất tích sau một biến cố dưới đáy sông xảy ra trước khi đỉnh lũ thượng nguồn đổ về. Sau đó xuất hiện sáu xác vô danh ở bãi cát hạ lưu, trong khi sổ sách lại ghi nhận không có thương vong. Bản đồ những đời sau cũng lần lượt xóa hoặc nhập đài cọc vào tuyến kè.

Nhưng ai sửa sổ, ai sửa bản đồ, và những người đó có biết chuyện xảy ra dưới đáy sông hay không — vẫn chưa có câu trả lời. Người mặc áo chàm kia là ai, nhận lệnh từ ai, và chiếc then đồng thực sự chìm xuống đâu, tất cả vẫn là những khoảng trống chưa có lời đáp.

Vương Quang nhìn Cả Đoan, cất giọng bình thản:

"Người mặc áo chàm đó... ngươi có nhìn thấy mặt hắn không?"

Lão Cả Đoan lắc đầu chua chát:

"Đêm hôm mưa gió mịt mùng, hắn lại đội nón mê sụp xuống tận cằm, ta làm sao thấy rõ mặt được. Ta chỉ nhớ một điều..."

Lão ngừng lại, đưa bàn tay sần sùi lên chỉ vào ngực trái của mình:

"Lúc hắn nhảy từ thuyền nan lên bờ đất để chạy trốn, vạt áo chàm bị gió thổi tốc lên. Dưới lớp áo tơi, bên hông hắn có đeo một miếng thẻ bài bằng kim loại màu xám, dài chừng ba tấc, đung đưa dưới ánh đuốc. Ta cứ nhớ nó đo đỏ xam xám như chì..."

Thanh Diệp nheo mắt: "Trên thẻ có chữ gì không?"

"Có một chữ triện lớn," lão Cả Đoan gằn từng tiếng qua kẽ răng: "Lúc ấy đuốc trên bờ hắt xuống một vệt sáng, ta nhìn thấy rõ..."

Lão nhìn thẳng vào mắt Vương Quang:

"Đó là chữ TỐNG."

Không gian quanh căn chòi lá bỗng chốc lặng phắc.

Chu Bá Cửu tròn xoe mắt, toan buột miệng thốt lên điều gì đó nhưng nhìn thấy nét mặt của Vương Quang liền vội vã ngậm chặt miệng lại.

Vương Quang đứng bất động giữa làn sương lạnh.

Trong đầu hắn lúc này có quá nhiều mảnh dữ kiện rời rạc: Sáu khẩu phần gạo ngoài sổ. Hai lưỡi cưa thép tôi dầu. Mắt xích đồng bị cắt dở ba phần. Một xác chết bị xích chân dưới cống ngầm Hát Giang mang thẻ Tống Hữu Triều. Một dấu triện Tuần Kiểm ký tắt chữ "Tống" trong sổ kho bến Bùi. Và giờ là một người mặc áo chàm mang thẻ bài kim loại màu xám có khắc chữ Tống chạy trốn trong đêm vỡ đài cọc.

Những chi tiết ấy đã đủ để đặt cạnh nhau trên một mặt bàn. Nhưng chúng chưa đủ để kết luận tất cả thuộc về cùng một con người.

Cùng họ không có nghĩa là cùng một người. Một tấm thẻ kim loại nhìn thoáng qua trong đêm mưa không thể thay thế cho danh tính hành chính. Và lời kể của một ông lão bảy mươi tuổi sau gần hai mươi năm cũng không thể coi là chân lý tuyệt đối nếu chưa được đối chiếu với hồ sơ lưu trữ.

Hắn nhìn Cả Đoan, giọng phẳng lặng không một gợn sóng:

"Ngươi chắc đó là chữ Tống?"

"Chắc. Chữ triện vuông vức khắc chìm, ta nhìn không lầm được."

"Còn dấu hiệu nào khác trên thẻ bài không?"

Lão già nhíu mày, cố lục lại ký ức: "Không nhớ nữa. Đuốc chỉ quét qua một cái chớp mắt thôi."

"Ngươi có biết hắn từ đâu tới không?"

"Chịu. Hắn nói giọng Kinh kỳ pha lẫn giọng đò giang, kín tiếng lắm."

Vương Quang khẽ gật đầu: "Được rồi."

Hắn không hỏi thêm một câu nào nữa.

Thanh Diệp nhìn hắn, dường như chờ đợi một phán đoán sắc sảo hay một giả thuyết kết nối từ viên Ký lục Khâm Thiên Giám. Nhưng Vương Quang chỉ cúi đầu, dùng bàn tay trái kéo lại dải vải gai thô đang quấn chặt cổ tay phải của mình.

Hắn đã từng phạm sai lầm ở Hát Giang khi biến một phần sự việc mình quan sát được thành toàn bộ chân tướng. Lần này, hắn không cho phép mình lặp lại vết xe đổ ấy.

"Chúng ta quay lại nha môn," Vương Quang quay sang nói với Thanh Diệp.

Thanh Diệp hơi nhướng mày: "Không truy tìm tung tích kẻ mang thẻ bài chữ Tống quanh vùng này sao?"

"Chưa thể tìm một cái bóng," Vương Quang nhìn ra màn sương trắng đục đang dâng lên từ bãi bồi ven sông: "Trước hết phải mở sổ lưu chuyển quan lại và cáo thụ của bến Bùi năm Bảo Thái mười tám. Phải biết vào mùa hè năm ấy, có bao nhiêu người mang họ Tống từng có quyền điều động hoặc nhận bài ngạch tại khúc sông này."

Lão Cả Đoan ngẩng đầu lên nhìn hai người, cất giọng khàn khàn:

"Các người... còn định đào bới chuyện năm đó lên thật sao?"

Vương Quang quay đầu lại nhìn người thợ già, rồi nhìn xuống những thân gỗ dâu ngâm đen sì dưới hố bùn:

"Mười chín năm trước, người ta đã xóa một cái đài cọc khỏi bản đồ. Nhưng muốn xóa sạch tất cả những người từng chạm vào nó khỏi sổ sách... không dễ đến thế."

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3