Nhân Gian Có Màn

Chương 109: Trát Văn Dinh Đốc Phủ

Đăng: 30/09/2026 10:44 1,889 từ 13 lượt đọc

Gian điếm tuần ven đê Luy Lâu đỏ rực ánh than củi từ chiếc hỏa lò đất nung đặt ở góc phòng.

Gió bấc rít từng hồi u u qua khe liếp nứa, mang theo hơi ẩm buốt giá của sông Hát phả vào không gian hẹp chừng hai trượng. Mùi khói than nồng nặc quyện chặt với mùi lưu huỳnh ngai ngái, mùi mực nho mới mài và mùi ẩm mốc của đống bao tải đựng cát hộ đê tạo thành một bầu không khí ngột ngạt, đè nặng lên từng nhịp thở.

Chu Bá Cửu ngồi xổm bên mép phản gỗ, dùng chiếc kẹp sắt gắp một hòn than đượm vùi vào đống tro ấm, đặt lên trên một chiếc bát sành đựng dầu trẩu trộn bột vôi khô. Gã thanh niên bến bãi cẩn thận nhúng một dải vải đay sạch vào bát dầu thuốc ấm, rồi nhẹ nhàng áp lên miệng vết mổ rách toạc bên vai thầy mình.

"Thầy ráng chịu đau một chút," Chu Bá Cửu nghiến răng thì thầm: "Dầu trẩu ngậm vôi sẽ hút bớt thứ nước tanh lợm kia ra ngoài. Chứ để cái lạnh này ngấm sâu vào tủy thì cánh tay phải coi như phế."

Vương Quang khẽ gật đầu, hàm răng cắn chặt vào mẩu rễ cau khô đến mức mẩu rễ dập nát, tứa ra thứ nước chát đắng ngắt nơi đầu lưỡi.

Hơi nóng của dầu trẩu áp vào da thịt khiến miệng vết thương giần giật đau nhói như bị kim châm, nhưng nó ngăn được luồng khí lạnh buốt đang từ vết mổ ăn sâu vào khớp xương quai xanh. Nơi mắt phải, chiếc vòng tròn đồng tâm viền đen sau trận nước lũ đã thu hẹp lại bằng một hạt đỗ, nhưng đáy mắt vẫn nhức nhối một cảm giác khô khát kỳ dị; tầm nhìn mắt trái mờ đi một nhịp rõ rệt, ép hắn phải liên tục chớp mắt để định hình những vật thể chung quanh.

Trên chiếc phản gỗ nghiến giữa phòng, một ngọn đèn dầu lạc ba tim được thắp sáng trưng.

Chủ bạ Đặng ngồi gập lưng, mười đầu ngón tay khẳng khiu dính đầy vệt mực nho tím than đang run rẩy lật từng trang của cuốn sổ đinh màu vàng. Cạnh đó, chiếc ống đồng đựng tờ trát của dinh Đốc Phủ cùng mũi tên sắt hưởng tiễn ba rãnh còi nằm trơ trọi trên mặt gỗ, phản chiếu ánh lửa đỏ quạnh.

Huyện thừa Lê ngồi xếp bằng ở đầu phản, vạt áo chàm đã khô cứng bùn non. Hắn cầm con dao gọt bút bằng thép nguội cạo nhẹ lên mép con dấu triện son đỏ au trên tờ văn thư, ánh mắt lạnh băng như mặt nước mùa đông:

"Đặng Chủ bạ, đối chiếu xong chưa?"

Chủ bạ Đặng nuốt khan một ngụm nước bọt, ngẩng khuôn mặt nhợt nhạt lên, cất giọng khô khốc:

"Bẩm quan lớn, đã đối chiếu xong ba lần. Trong số hai trăm linh bốn người có mặt trên bãi tời lúc sập giàn, có ba phu phen người làng Luy Lâu bị nước cuốn trôi ra giữa dòng, hiện chưa tìm thấy xác. Năm người bị đá hộc va đập gãy xương cẳng chân và dập xương sườn, đã đưa về lều cứu thương."

Chủ bạ Đặng dừng lại một nhịp, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào trang sổ mở rộng:

"Nhưng kỳ lạ nhất là... mười bảy tên phu dôi dư mang theo trát điều động từ bến Bùi. Lúc con sóng dữ ập tới, trong khi tất cả phu phen địa phương đều tháo chạy tán loạn lên đê, thì mười bảy kẻ này... không một ai nhúc nhích."

Huyện thừa Lê nheo mắt lại: "Không nhúc nhích?"

"Đúng vậy, quan lớn," Chủ bạ Đặng rùng mình, giọng run lên: "Lính tuần của Ti Phổ báo lại rằng, lúc nước dâng ngập ngang bụng, mười bảy kẻ đó cứ đứng trơ như những chiếc cọc gỗ cắm dưới bùn lầy, mặt hướng thẳng về phía cỗ gỗ độc mộc. Cho đến khi nước rút đi, lính tuần xông xuống trói gô lại điệu về lều cấm giới, họ vẫn không hề phản kháng, miệng không thốt một lời, thân thể lạnh ngắt như người ngâm nước lâu ngày!"

Huyện thừa Lê không nói gì, ngón tay cái gõ nhịp đều đặn lên mặt phản gỗ đánh cộc, cộc. Hắn quay sang nhìn viên Đề lại Thủy Đạo Ty họ Hoàng đang bị trói giật cánh khuỷu quỳ dưới nền đất nện, chiếc cùm sắt nặng hai mươi cân khóa chặt hai cổ chân nham nhở vết trầy xước.

"Hoàng Đề lại," Huyện thừa Lê cất giọng trầm đục, từng chữ rơi xuống ráo hoác: "Bản quan cho ngươi cơ hội cuối cùng để nói rõ sự thật. Tờ trát của dinh Đốc Phủ này mang con dấu của Thủy Đạo Đề Đốc Ty, nhưng ai là kẻ đưa nó cho ngươi? Tên kỵ mã mặc áo choàng lông quạ ngoài bãi đê có lai lịch thế nào?"

Viên Đề lại nằm rạp người xuống đất, trán đập thùm thụp lên nền đất cát, giọng khóc lóc nghẹn đặc trong nỗi kinh hoàng tột độ:

"Quan lớn tha mạng! Tiểu nhân... tiểu nhân thực sự không biết tên hắn! Đêm mười chín tháng Chạp, xà lan chở đá hộc từ thượng lưu cập bến bãi Luy Lâu giữa giờ Tý. Tên kỵ mã áo quạ đi ngựa trạm từ mạn phủ Quốc Oai sang, hắn không vào nha môn, mà hẹn gặp tiểu nhân ở quán rượu bỏ hoang đầu bến Hát!"

Hoàng Đề lại thở dốc, hai vai run bắn lên:

"Hắn đưa ra chiếc ống đục đồng thau tám cạnh dính mực son và tờ văn thư này. Hắn tự xưng mười bảy tên phu trên xà lan là do Khâm Thiên Giám điều động đặc biệt để trám huyệt luồng lạch. Hắn đọc vanh vách họ tên, quê quán của từng người, ép tiểu nhân phải dùng chiếc ống đục dập dấu son tám cạnh vào sổ đinh của huyện trước ngày hăm ba!"

"Hắn có nói vì sao phải ghi sổ trước ngày hăm ba không?" Thanh Diệp bất ngờ cất tiếng.

Nàng đứng tựa lưng vào vách nứa, cách chiếc phản gỗ đúng ba bước chân. Ánh mắt nàng xuyên qua tấm mạng lụa chàm mỏng, khóa chặt vào từng đường gân run rẩy trên cổ viên Đề lại.

Hoàng Đề lại nuốt nước bọt đánh ực một cái, lắp bắp khai:

"Hắn bảo... ngày hăm ba là ngày cúng Táo quân chầu trời. Nếu trước ngày hăm ba mà tên của mười bảy kẻ đó không được quan phủ địa phương đóng dấu son ghi nhận vào sổ đinh của cõi trần, thì chiếc thuyền thứ mười ba ở bến Bùi sẽ không chịu nhận đinh... và cỗ gỗ độc mộc dưới lòng sông Hát sẽ làm vỡ đê Luy Lâu!"

Lời khai của viên Đề lại như một luồng gió độc thổi qua căn phòng, khiến ngọn lửa đèn dầu lạc chao đảo dữ dội.

Chủ bạ Đặng mặt cắt không còn hạt máu, chiếc bút lông kẹp giữa ngón tay run lên bần bật.

Huyện thừa Lê hít sâu một hơi luồng không khí nồng mùi lưu huỳnh. Hắn không nhìn Hoàng Đề lại nữa, mà quay sang Vương Quang:

"Vương Ký lục. Ngươi từng ngồi chép án ở nha môn, lại theo Khâm Thiên Giám đi khảo sát thực địa nhiều nơi. Ngươi nghĩ sao về tờ trát này và lời khai của hắn?"

Vương Quang bước tới cạnh chiếc phản gỗ. Hắn cúi người, dùng bàn tay trái không bị thương nhặt mũi tên hưởng tiễn bịt ống đồng ba rãnh lên, đưa sát vào ngọn đèn dầu.

Đầu mũi tên bằng sắt nguội rèn thủ công, nhưng chiếc ống đồng ba rãnh bịt ở đầu tên thì được tiện gọt rất tinh xảo, các rãnh xẻ đều nhau. Vương chưa nhận ra nó thuộc xưởng nào, chỉ thấy cách gia công quá đều và sạch so với những món đồ đồng thô thường thấy ở bến bãi.

Hắn lật dải giấy bản viền son điều ra, dùng đầu ngón tay miết nhẹ lên vệt son đỏ của con dấu triện mang danh dinh Đốc Phủ.

"Triện này có dấu hiệu là triện đồng thật," Vương Quang cất giọng lạnh lùng, rành rọt: "Đường nét chữ triện sắc sảo, góc vuông chuẩn xác, không có dấu vết chắp vá của thợ ấn giả mạo."

Viên Đốc Công Thủy Đạo thở phào một tiếng định mở miệng, nhưng Vương Quang đã lập tức nói tiếp:

"Thế nhưng, chất son trên mặt giấy hoàn toàn khác với loại son chu sa thường dùng trên công văn của Kinh kỳ. Mùi dầu trẩu già lẫn trong lớp son, bên dưới có thứ bột nặng khiến mặt dấu quánh và khô chậm hơn loại son hắn từng thấy trên công văn ở nha môn. Hắn chưa biết thứ bột ấy là gì. Hơn nữa, vết son bị lem nhẹ ở góc dưới bên hữu — dấu hiệu cho thấy con dấu được đóng vội vã trong điều kiện không giống quy trình văn thư thông thường."

Hắn dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Huyện thừa Lê:

"Triện thật, nhưng mực không đúng lệ. Ai đó đã dùng một thứ có sẵn ngoài quy trình hành chính để khiến tờ trát này mang hình thức hợp lệ trước mắt người xem."

Đôi mắt một mí của Huyện thừa Lê nheo lại: "Ý ngươi là có kẻ lạm quyền dùng triện đồng ở vùng ngoài?"

"Hạ quan chưa đủ chứng cứ để kết luận ai làm, làm ở đâu hay vì mục đích gì," Vương Quang buông dải giấy xuống phản gỗ: "Nhưng có một sự thật vật chất rõ ràng: Tên của Trần Tứ được Hoàng Đề lại ghi vào sổ đinh Luy Lâu từ đêm mười chín. Trong khi đêm hăm hai, hạ quan mới tận mắt thấy gã xuất hiện ở bến Bùi. Có một khoảng cách ba ngày đêm giữa việc ghi tên trên giấy và sự xuất hiện của gã ngoài đời thực."

Căn phòng rơi vào một khoảng im lặng chết chóc.

Đúng lúc đó, từ phía mặt sông Hát ngoài bãi bồi, một âm thanh trầm đục, nặng nề bỗng rền vang qua màn sương mù đặc quánh.

KENG... KENG... KENG...

Đó là tiếng xích sắt khổng lồ kéo lê trên mặt đá đáy sông, hòa lẫn với tiếng mái chèo gỗ nghiến ràn rạt vào dòng nước xiết.

Một tên lính tuần từ ngoài cửa điếm tuần hớt hải lao vào, mũ nẹp sắt lệch hẳn sang một bên, thở không ra hơi:

"Báo... Báo quan lớn! Có thuyền lớn ghé bến!"

Huyện thừa Lê đứng bật dậy: "Thuyền của ai?!"

"Dạ... Là ba chiếc xà lan bọc đồng cắm cờ đuôi nheo màu lục của Thủy Đạo Đề Đốc Ty!" Tên lính tuần run rẩy chỉ tay ra phía bến sông: "Họ mang theo trát của quan Tuần Kiểm Đốc Phủ... đòi tiếp quản toàn bộ bãi bồi và áp giải khối gỗ dâu về Kinh kỳ ngay trong đêm!"

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3