Chương 159: Đêm Không Ai Dám Ngủ
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
159 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 159/159 chương
Sáng hôm sau, thôn Đông Loan vẫn thức dậy theo nhịp sinh hoạt thường ngày. Gà gáy từ cuối xóm, khói bếp lần lượt bay lên sau những mái nhà thấp, ngoài đồng đã có người dắt trâu ra ruộng. Nếu chỉ nhìn từ con đường dẫn vào thôn, chẳng ai nghĩ nơi này vừa đón về sáu người từng mất tích ở Quỷ Môn.
Nhưng sự yên ổn ấy chỉ nằm ngoài những cánh cửa.
Vương Quang cùng Trần Húc đến nhà Phùng Văn Khoát khi mặt trời vừa lên khỏi rặng tre. Trên tay Trần Húc là quyển sổ ghi danh những người được đưa về, còn Vương Quang mang theo mấy tờ giấy cần bổ sung vào bản kê cứu trợ. Chuyến đi này vốn chỉ để hỏi thăm tình trạng sức khỏe và hoàn tất những việc còn thiếu sau khi dân phu trở về.
Cổng nhà họ Phùng khép hờ. Người mẹ già của Khoát ngồi bên hiên, tay lần tràng hạt gỗ đã nhẵn bóng. Nghe tiếng chân, bà vội đứng dậy, nhưng vừa nhận ra hai người mặc quan phục thì lại chậm chạp ngồi xuống.
“Quan sai đến sớm quá. Thằng Khoát nhà tôi vừa ra ngoài.”
Vương Quang nhìn đôi dép rơm đặt ngay ngắn dưới thềm. Một chiếc còn vương bùn ẩm, chiếc kia sạch sẽ, không giống như vừa có người mang đi làm đồng.
“Chúng tôi chỉ đến hỏi thăm. Hôm qua thấy cậu ấy đã về nhà, nhưng chưa kịp hỏi kỹ. Đêm qua ngủ có yên không?”
“Yên. Nó về mệt nên ngủ sớm.”
Bà trả lời quá nhanh. Đầu ngón tay đang lần tràng hạt bỗng dừng lại, siết chặt một hạt gỗ.
Cu Thóc ngồi trong góc hiên, hai tay ôm đầu gối. Thằng bé nhìn Vương Quang rồi lại nhìn bà nội, môi mấp máy như muốn nói điều gì. Bà cụ lập tức quay sang.
“Vào trong lấy nước cho khách.”
Cu Thóc không nhúc nhích.
“Nghe lời bà.”
Lần này giọng bà nghiêm hơn. Thằng bé cúi đầu, lặng lẽ đứng lên. Khi đi ngang qua Vương Quang, nó ngước mắt nhìn ông một thoáng. Trong ánh mắt ấy có nỗi sợ của trẻ nhỏ, nhưng còn có cả sự bối rối của một đứa trẻ không hiểu vì sao người lớn lại bắt mình im lặng.
Vương Quang không giữ nó lại.
Ông hỏi thêm vài câu về bữa ăn, giấc ngủ và vết thương của Khoát. Bà cụ đều đáp rằng mọi chuyện bình thường. Chỉ đến khi Trần Húc nhắc chuyện quan phủ có thể cấp thêm ít thuốc men, bà mới ngập ngừng hỏi liệu có cần người nhà ký nhận hay không.
“Chờ cậu Khoát về rồi ký cũng được,” Trần Húc nói.
“Không cần đâu. Tôi ký thay nó được.”
Bà cụ chìa tay nhận tờ giấy, nhưng nét bút run đến mức phải viết lại hai lần. Vương Quang đứng bên cạnh, không hỏi thêm. Lúc ra khỏi cổng, ông nghe thấy tiếng then gỗ được cài lại ngay sau lưng.
Trần Húc ngoái nhìn.
“Bà cụ hình như có điều giấu chúng ta.”
“Có thể.”
“Có nên quay lại hỏi?”
Vương Quang lắc đầu. “Nếu người ta chưa muốn nói, hỏi lúc này cũng chẳng được gì. Trước hết phải xem những nhà còn lại.”
Hai người đi dọc con đường đất về phía cuối thôn. Vương Quang không nhắc đến bóng người dưới ánh nắng hôm qua. Ông cũng không kể chuyện Cu Thóc đã nhìn thấy điều gì. Trong bản ghi, những gì xảy ra ở nhà họ Phùng vẫn chỉ là một dấu hiệu chưa thể xác định.
Đến gần trưa, sự yên ổn ngoài thôn bắt đầu rạn ra.
Nhà Triệu Bá Côn nằm sát một con mương nhỏ. Vợ Côn vốn thường mang rau ra chợ vào buổi sáng, hôm nay lại đóng cổng từ sớm. Một người hàng xóm sang hỏi mượn cái rổ, đứng gọi mấy lần vẫn không thấy ai ra mở. Đến khi người ấy định bỏ đi, cánh cửa mới hé ra một khoảng vừa đủ để một bàn tay đưa chiếc rổ ra ngoài.
“Trong nhà có việc gì à?”
“Không. Bá Côn mệt, tôi phải ở nhà trông nó.”
Người hàng xóm nhìn vào trong. Qua khe cửa, bà ta chỉ kịp thấy Côn ngồi ở mép giường, hai chân đặt trên nền đất. Hắn không nằm nghỉ như một người bệnh. Lưng thẳng, hai tay buông thõng, mắt nhìn về phía chiếc chum nước ở góc nhà.
“Thế có cần gọi thầy thuốc không?”
“Không cần. Nó chỉ mất ngủ.”
Cánh cửa khép lại.
Người hàng xóm đi được một quãng thì nghe tiếng gáo gỗ rơi xuống nền. Tiếng động không lớn, nhưng ngay sau đó là giọng đàn bà hốt hoảng gọi tên chồng. Bà ta dừng chân, định quay lại, song cánh cổng nhà Bá Côn vẫn đóng im ỉm. Một lúc sau, đứa con nhỏ của hai người chạy ra, vừa khóc vừa kéo cửa. Mẹ nó lập tức bế thốc lên, mang vào trong rồi đóng cổng.
Không ai biết trong căn nhà ấy vừa xảy ra chuyện gì.
Bữa trưa, vợ Bá Côn múc cho chồng một bát nước vừa đun sôi. Hơi nóng còn bốc lên trên miệng bát. Côn cầm lấy, uống một ngụm dài mà không hề nhăn mặt. Nước nóng chảy xuống cằm, hắn cũng chẳng đưa tay lau.
Vợ hắn giằng lấy bát.
“Ông không thấy nóng sao?”
Côn nhìn nàng. Một lúc sau, hắn đặt tay lên thành bát, như thể vừa mới nhận ra vật mình đang cầm.
“Nóng à?”
“Vừa mới đun xong đấy!”
Hắn không đáp. Ánh mắt lại trôi về phía góc nhà, nơi có chiếc giường tre kê sát vách. Dưới ánh sáng lọt qua cửa sổ, bóng hắn đổ trên nền đất. Phần đầu của cái bóng nhòe đi, chỉ còn một mảng tối kéo dài từ vai xuống chân.
Vợ Bá Côn nhìn thấy.
Nàng lập tức cúi xuống nhặt chiếc bát, lấy cớ nước đổ ra nền để quay mặt đi. Đứa con nhỏ ngồi cạnh mâm cơm ngẩng đầu, nhưng nàng đã vội kéo nó vào lòng.
“Ăn đi. Đừng nhìn bố.”
Bá Côn vẫn ngồi đó. Hắn không nhìn vợ, cũng không nhìn con. Đôi mắt đờ đẫn dừng lại ở chiếc giường tre, nơi chẳng có ai nằm.
Đầu giờ chiều, vợ hắn đưa đứa trẻ sang nhà mẹ đẻ. Nàng chỉ nói chồng phát sốt, trong nhà không có ai giúp nên muốn gửi con vài hôm. Người mẹ hỏi có cần mời thầy thuốc không, nàng chỉ cúi đầu, nói để tối xem tình hình rồi tính.
Nàng không kể chuyện bát nước sôi. Cũng không nhắc đến cái bóng thiếu đầu dưới nền đất.
Ở một căn nhà khác, Đỗ Tam đang ngồi bó gối bên bếp. Hắn là người khỏe nhất trong số sáu dân phu trở về, trước kia làm việc gì cũng nhanh nhẹn, nói cười không ngớt. Từ hôm qua đến nay, hắn ít nói hẳn. Vợ hắn tưởng chồng mệt sau chuyến đi dài, nên cũng không hỏi nhiều.
Buổi chiều, người em họ sang mượn chiếc đục. Vừa bước vào sân, người ấy đã thấy Đỗ Tam ngồi bên bếp lửa, dù trời vẫn còn oi.
“Anh Tam, sao không ra ngoài cho thoáng?”
Đỗ Tam ngẩng đầu. Hắn nhìn người vừa đến một hồi lâu, rồi chậm rãi gọi:
“Anh cả?”
Người em họ đứng sững.
Anh cả của Đỗ Tam đã chết từ năm ngoái.
“Anh gọi ai đấy?”
Đỗ Tam chớp mắt. Vẻ mặt hắn không thay đổi, như thể câu hỏi kia chẳng có gì lạ.
“Lấy cho anh chén nước.”
Người em họ không dám bước thêm. Vợ Đỗ Tam từ trong nhà chạy ra, vội đẩy chiếc đục vào tay khách.
“Anh ấy mệt nên nói nhầm. Cậu cứ về trước đi, có gì hôm khác sang.”
Người em họ nhìn Đỗ Tam thêm một lần rồi rời khỏi sân. Cửa vừa khép, vợ hắn quay lại. Nàng đặt tay lên trán chồng, rồi lập tức rụt về. Da thịt dưới lòng bàn tay lạnh ngắt, lạnh như vừa chạm vào một phiến đá để lâu trong giếng.
“Ông có nghe tôi nói không?”
Đỗ Tam nhìn nàng.
“Chị dâu đâu?”
Vợ hắn không trả lời. Nàng ngồi xuống bên cạnh, kéo tấm áo khoác lên vai chồng, dù trong nhà nóng đến mức mồ hôi đã rịn trên trán nàng.
Nhà nào có người trở về từ Quỷ Môn, trong ngày hôm ấy cũng đều có một chuyện riêng như vậy.
Ở nhà người thứ tư, đứa con gái đang giặt áo ngoài sân nghe cha gọi tên mẹ nó bằng một cái tên đã bỏ từ thuở còn con gái. Người cha vẫn ngồi trên chõng, tay cầm chiếc lược gỗ, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước. Người mẹ vội giật chiếc lược khỏi tay chồng, bảo con gái vào bếp, rồi lặng lẽ cất chiếc lược lên bàn thờ.
Ở nhà người thứ năm, người đàn ông trở về cứ đến gần bữa cơm lại đặt thêm một đôi đũa bên cạnh mâm. Vợ hỏi đặt cho ai, hắn chỉ đáp rằng người kia sắp về. Nàng nhìn quanh căn nhà, cuối cùng vẫn cầm đôi đũa ấy cất đi. Đến bữa sau, hắn lại đặt thêm một đôi khác.
Còn ở nhà người thứ sáu, một đứa trẻ đang ngủ trưa bỗng tỉnh dậy vì nghe tiếng cha gọi từ ngoài sân. Nó chạy ra, nhưng người cha đang ngồi ngay trong nhà, không hề mở miệng. Khi đứa trẻ kể lại, người mẹ lập tức bịt miệng con, kéo nó vào buồng.
Không nhà nào muốn để người ngoài biết chuyện.
Họ sợ người thân bị xem là kẻ mang tà về làng. Sợ hàng xóm tránh mặt, sợ trẻ nhỏ bị cấm chơi cùng, sợ đến cả bữa cơm cũng không còn ai dám ngồi chung. Nhưng sâu hơn cả những nỗi sợ ấy là một điều mà không ai trong số họ muốn thừa nhận: người thân đã trở về, đang ngồi trong chính căn nhà của mình, nhưng đôi khi lại khiến họ có cảm giác người trước mặt không còn là người mà họ từng biết.
Vì vậy, họ đóng cửa.
Họ nói người nhà bị cảm, bị sốt, bị mất ngủ. Họ giấu những chiếc bát nước nóng, cất những đôi đũa thừa, không cho con trẻ kể lại lời nói kỳ lạ của cha chú. Mỗi người tự tìm một lý do để giữ cho căn nhà của mình còn giống như trước.
Chỉ có điều, càng về chiều, những cánh cửa càng đóng chặt.
Vương Quang và Trần Húc trở về chỗ nghỉ tạm khi bóng tre đã kéo dài qua con đường đất. Trong thôn, tiếng người gọi nhau ngoài sân thưa dần. Những nhà có người trở về đều đã lên đèn, nhưng không phải ánh đèn nào cũng chiếu ra cửa.
Trần Húc đặt quyển sổ xuống bàn.
“Không chỉ nhà họ Phùng.”
Vương Quang đang rửa bút, nghe vậy thì dừng tay.
“Cậu đã hỏi được bao nhiêu nhà?”
“Chưa hỏi trực tiếp. Nhưng tôi thấy nhà Bá Côn đóng cửa từ trưa. Đỗ Tam không ra ngoài, nhà người khác cũng vậy. Có mấy đứa trẻ bị người lớn kéo vào trong ngay khi vừa chạy ra sân.”
“Có ai nói rõ nguyên do không?”
Trần Húc lắc đầu.
“Không. Ai cũng bảo người nhà mệt.”
Vương Quang lau khô đầu bút. “Vậy trước mắt cứ ghi nhận việc nhiều nhà cùng có người trở về đều đang tránh tiếp xúc với bên ngoài. Đừng ghi thành một chứng bệnh khi chưa biết họ có cùng biểu hiện hay không.”
Trần Húc gật đầu. Anh mở sổ, ghi lại từng cái tên. Khi đến tên Triệu Bá Côn, anh chợt nhớ đến người em họ của Đỗ Tam.
“Người em họ nói Đỗ Tam gọi nhầm người chết. Nếu chuyện ấy là thật…”
“Thì cũng chỉ là một lời kể.”
“Nhưng nếu nhiều nhà đều có chuyện tương tự?”
“Càng phải ghi riêng từng nhà.” Vương Quang nhìn những dòng mực còn ướt. “Một lời nói khác thường không đủ để kết luận người nói là ai. Cũng không thể vì nhiều người cùng có biểu hiện lạ mà mặc nhiên cho rằng nguyên do của họ giống nhau.”
Trần Húc im lặng. Anh biết Vương Quang nói đúng, nhưng những gì xảy ra trong thôn khiến người ta khó lòng bình tĩnh. Sáu người trở về cùng một chuyến, rồi từng căn nhà lần lượt xuất hiện chuyện không thể giải thích. Dẫu chưa ai dám nói ra, tất cả đều hiểu rằng những điều ấy có liên quan đến chuyến đi Quỷ Môn.
Đêm xuống nhanh hơn mọi ngày trong cảm giác của những người ở Đông Loan.
Sau bữa tối, nhiều nhà không thổi tắt đèn. Có người ngồi bên giường, giả vờ vá áo nhưng mắt không rời khỏi người thân. Có người trải chiếu ngay cạnh cửa buồng, nằm quay mặt vào trong, chỉ cần nghe tiếng động nhỏ cũng lập tức ngồi dậy. Những đứa trẻ bị dặn không được chạy sang nhà hàng xóm, không được gọi tên người lớn khi họ đang ngủ, càng không được nhắc lại những lời đã nghe ban ngày.
Nhà họ Phùng cũng vậy.
Bà cụ ngồi bên giường con trai, tay cầm chiếc quạt mo nhưng không quạt. Cu Thóc nằm sát vách, hai mắt mở thao láo. Phùng Văn Khoát nằm giữa nhà, hai tay đặt trên bụng, hơi thở đều đặn đến mức gần như không nghe thấy.
Bà cụ nhìn con rất lâu.
“Khoát à.”
Không có tiếng đáp.
Bà đưa tay kéo tấm chăn lên ngang ngực con, cẩn thận như sợ đánh thức hắn. Đầu ngón tay chạm vào cổ tay Khoát, bà khẽ rùng mình. Da thịt ấy lạnh hơn cả chiếc chăn vừa lấy từ rương ra.
Bà rút tay về, nhìn sang Cu Thóc.
“Ngủ đi con.”
“Bà ơi…”
“Ngủ.”
Cu Thóc mím môi, kéo chăn che kín đầu.
Ở nhà Triệu Bá Côn, người vợ đã khóa cửa buồng trong. Đứa con nhỏ ngủ bên cạnh mẹ đẻ, còn nàng ngồi tựa lưng vào vách, tay cầm con dao thái rau. Bá Côn nằm ngoài gian giữa, quay mặt về phía chiếc giường tre. Từ lúc lên giường đến giờ, hắn chưa từng trở mình.
Gần nửa đêm, hắn bỗng ngồi dậy.
“Ông nội.”
Người vợ siết chặt cán dao.
Bá Côn nhìn về phía gầm giường. Giọng hắn rất nhỏ, như đang nói với người ngồi đối diện.
“Cái vò dưới gầm giường vẫn còn. Tôi đã tìm thấy rồi.”
Không ai trả lời.
Một lúc sau, hắn lại nói:
“Tiền thuế thân vẫn để trong đó. Ông bảo tôi đừng động vào.”
Người vợ không biết hắn đang nói với ai. Nàng chỉ biết ông nội của Bá Côn đã mất từ lâu, trước cả khi nàng về làm dâu. Trong nhà chưa từng ai nhắc đến chiếc vò nào dưới gầm giường.
Bá Côn cúi đầu, lắng nghe một lúc lâu. Rồi hắn nói tiếp, giọng bỗng trở nên khàn đặc:
“Đã mười lăm năm rồi. Nước ngập đến cổ… sao không ai mở vò, trả món nợ ấy?”
Người vợ bật dậy. Con dao trong tay va vào cột nhà, phát ra tiếng khô khốc.
Bá Côn lập tức im bặt.
Nàng nhìn chồng. Hắn vẫn ngồi bên mép giường, đầu hơi nghiêng, như đang chờ một câu trả lời. Trong bóng tối, nàng không nhìn rõ mặt hắn, chỉ thấy đôi vai bất động và hai bàn tay đặt trên đầu gối.
“Ông đang nói chuyện với ai?”
Bá Côn quay sang.
“Bà không nghe thấy à?”
Nàng lùi lại một bước.
“Nghe thấy gì?”
Hắn nhìn nàng thêm một lúc rồi nằm xuống. Trước khi nhắm mắt, hắn còn khẽ nói:
“Để mai mở vò.”
Người vợ không ngủ nữa. Nàng ngồi sát bên con, giữ con dao trong tay cho đến khi trời gần sáng.
Cùng lúc ấy, ở nhà Đỗ Tam, người vợ nghe chồng gọi tên anh cả thêm một lần. Lần này hắn không ngồi bên bếp mà nằm quay mặt vào vách. Hắn nói bằng giọng mệt mỏi, như đang trách móc một người thân vừa trở về muộn.
“Anh cả, sao anh không vào nhà?”
Nàng nhìn ra cửa. Cửa đã cài then, sân ngoài không có bóng người.
“Ông đừng nói nữa.”
Đỗ Tam không đáp. Hắn chỉ đưa tay ra phía khoảng trống bên cạnh giường, như muốn nhường chỗ cho ai đó.
Ở nhà người thứ tư, người cha trở mình rồi gọi tên vợ bằng cái tên cũ. Ở nhà người thứ năm, đôi đũa thừa lại xuất hiện trên mâm cơm đã dọn đi từ lâu. Còn trong căn nhà cuối xóm, người đàn ông nằm ngủ bỗng ngồi dậy, nhìn về phía cửa sổ đóng kín và hỏi một câu không ai hiểu:
“Đến lượt ai?”
Những tiếng động ấy không vang lên cùng một lúc. Chúng rời rạc, cách nhau bởi những khoảng lặng dài, nhưng đêm ấy, gần như nhà nào có người trở về cũng đều có người thức.
Ngoài sân, chó trong thôn thỉnh thoảng sủa lên. Có tiếng chân người đi qua ngõ rồi dừng lại trước một cánh cổng. Nhưng chẳng ai mở cửa. Những người đang thức chỉ ngồi yên, chờ tiếng chân ấy rời đi.
Tại chỗ nghỉ tạm của Khâm Thiên Giám, Vương Quang vẫn chưa ngủ.
Ngọn đèn dầu trên bàn đã cháy thấp. Trần Húc ngồi đối diện, mắt đỏ vì thiếu ngủ. Từ đầu canh ba, họ đã nghe thấy tiếng chó sủa ở vài phía trong thôn, rồi im bặt. Có một lần, tiếng trẻ con khóc bật lên sau vách nhà, nhưng rất nhanh đã bị người lớn dỗ nín.
“Có nên cho người đi tuần không?” Trần Húc hỏi.
“Không cần kinh động dân làng. Cứ để người ở ngoài đường chính, nếu có ai chạy ra cầu cứu thì mới đến.”
“Nhỡ chuyện xảy ra trong nhà?”
Vương Quang nhìn ngọn đèn.
“Chúng ta chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra. Đừng tự ý xông vào nhà dân chỉ vì nghe thấy tiếng động.”
Trần Húc không nói nữa. Anh nhìn xuống quyển sổ đang mở. Những cái tên được viết thành một hàng, bên cạnh là những ghi chú ngắn về tình trạng của từng người. Có người bóng không rõ, có người không cảm nhận được nóng lạnh, có người gọi tên người đã khuất. Những dấu hiệu không giống nhau, nhưng đều xuất hiện sau khi họ trở về từ Quỷ Môn.
Vương Quang cầm bút lên, viết thêm một dòng vào cuối trang:
Trong thôn có nhiều hộ gia đình cùng xuất hiện hiện tượng bất thường ở người vừa trở về từ Quỷ Môn. Biểu hiện giữa các trường hợp không đồng nhất. Người nhà đều có xu hướng che giấu, chưa rõ mức độ và nguyên do. Cần tiếp tục quan sát, hỏi riêng từng hộ, không vội quy kết.
Ông dừng bút.
Ngoài cửa sổ, một cơn gió lùa qua khe ván. Ngọn đèn nghiêng đi, bóng hai người trên vách chao nhẹ rồi trở lại như cũ.
Vương Quang nhìn bóng mình một thoáng, sau đó cúi xuống khép sổ.
Trong thôn, đêm vẫn chưa qua. Những người thân của sáu dân phu trở về vẫn đang ngồi bên giường, bên cửa hoặc bên bếp lửa, không ai dám ngủ sâu. Họ không biết phải gọi điều đang xảy ra là gì. Cũng không biết người nằm trước mặt mình có còn giống người đã bước qua cổng làng hôm trước hay không.
Họ chỉ biết một điều: người nhà đã trở về, nhưng từ đêm ấy, không còn ai dám chắc rằng khi nhắm mắt, mình sẽ nghe thấy đúng giọng nói của người đang nằm bên cạnh.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.