Chương 111: Bản Đồ Da Dê Của Cựu Giám Sinh
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
114 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 114/114 chương
Gió bấc rít qua những chòi gác ven sông, xua tạt màn mưa phùn buốt giá vào gian quán rượu bỏ hoang đầu bến Hát.
Quán chỉ là một căn nhà ba gian vách đất trát rơm đã nứt nẻ quá nửa, mái rạ mục nát dột từng giọt nước mưa đục ngầu xuống những chiếc bàn gỗ tạp đen sì vì cáu ghét. Không khí bên trong quánh đặc mùi bã rượu chua loét ngâm lâu ngày trong chum vỡ, quyện chặt với mùi khói thuốc lào ẩm mốc và mùi bùn non sông Hát bám theo gấu áo của những kẻ vừa bước từ bãi tời lên.
Lý Tử Trình bước qua bậu cửa gỗ kênh kiệu.
Cái chân trái của gã hơi tập tễnh, mỗi nhịp bước lại kéo theo tiếng thịch... thịch nặng nề của đầu gậy tre đực bịt vòng sắt hoen gỉ nện xuống nền đất nện. Gã không thèm nhìn đám người trong quán, cũng chẳng buồn cởi chiếc áo tơi lá tơi tả dầm dề nước mưa. Đôi bàn chân trần nứt nẻ, gót chân cáu bẩn một lớp bùn xám khô cứng bước thẳng tới chiếc bàn con kê sát góc vách đất — nơi ngọn đèn dầu lạc của quán còn sót lại một đốm lửa vàng vọt bằng hạt ngô.
Gã đặt chiếc nậm rượu gốm da lươn sứt vòi lên mặt bàn đánh cạch, rồi thong thả ngồi xổm trên một khúc gỗ nghiến kê tạm.
Đôi bàn tay gầy guộc, các khớp xương ngón tay bè ra và ngả màu nâu đồng vì dầm nước nhiều năm của Lý Tử Trình khẽ cử động. Ngón trỏ và ngón cái của gã ám khói thuốc lào vàng khè, móng tay cái được cắt bằng phẳng như một chiếc xẻng con — vết tích quen thuộc của những kẻ từng nhiều năm làm nghề vót thẻ tre, mài mực nho và cầm bút thảo bản vẽ trắc đạc.
Gã ngước đôi mắt đỏ ngầu những tia máu lên, quét một lượt từ vết máu mủ ướt đẫm bả vai phải của Vương Quang cho đến tròng mắt bên phải đang thắt chặt vòng đồng tâm viền đen của hắn. Khóe miệng Lý Tử Trình giật giật, buông một tiếng cười khàn đục như tiếng đá cọ đáy thuyền:
"Mắt mày xám lại rồi đấy, Vương Ký lục. Rễ cau khô với vôi sống của đám thợ đò chỉ giữ được hơi ấm ngoài da thịt thôi. Cái lạnh ngấm sâu vào khớp thế kia, mày cầm thước sắt lội bùn thêm ba ngày nữa thì cánh tay phải coi như phế bỏ."
Vương Quang ngồi ở mép phản đối diện, hai hàm răng vẫn cắn chặt lấy mẩu rễ cau dập nát. Hắn không phủ nhận, cũng không tỏ vẻ nao núng. Bàn tay trái của hắn vẫn đặt phẳng trên đốc thanh Thiết Xích Khảo Sát dựng đứng bên đầu gối, ngón tay cái khẽ miết lên mép thước thép nguội:
"Huynh đến bến Luy Lâu từ bao giờ?"
"Tao tới từ lúc nước sông chưa rút, từ lúc ba chiếc xà lan bọc đồng của thằng họ Tống còn cắm neo ngoài ngã ba sông," Lý Tử Trình ngửa cổ hớp một ngụm rượu nếp lớn, chép miệng đánh chẹp một tiếng cay nồng. "Khúc sông này nghẽn mạch ba hôm, nước dồn toa dập vào chân thành cổ... Đám quan huyện chỉ biết nhìn vào cuốn sổ đinh, lũ Thủy Đạo Ty chỉ biết sợ mất đầu vì trễ hẹn vận tải. Không một đứa nào chịu cúi đầu xuống ngửi xem bùn đáy sông đang rỉ ra thứ gì."
Thanh Diệp đứng tựa lưng vào cột cái gian giữa, tà áo tơi đen tráng nhựa đường buông rủ phẳng lặng. Nàng không bước vào quầng sáng của ngọn đèn dầu, đôi mắt dài hẹp khóa chặt vào chiếc túi da trâu mòn nhẵn góc đang giắt bên hông Lý Tử Trình:
"Ngươi từng là Giám sinh. Hồ sơ nói sau khi rời kinh, ngươi về quê làm ruộng bến sông Đáy. Một kẻ làm ruộng bình thường không mang theo thứ này."
Lý Tử Trình liếc xéo Thanh Diệp một cái, hừ mũi:
"Người của nha môn lúc nào cũng mở miệng là hồ sơ với trát bộc. Các người ngồi trong nhà ngói son đọc văn tự chép lại của đời trước, có biết sông ngòi ngoài bãi này bị bồi lấp, nắn dòng bao nhiêu lần rồi không?"
Nói đoạn, gã đặt cây gậy tre đực dựa vào mép bàn. Bàn tay chai sạn thò sâu vào trong bọc áo tơi lá, lôi ra một bọc vải dầu gai đã ngả màu vàng sáp, bọc ngoài buộc chặt bằng ba vòng dây gai bện tẩm nhựa thông.
Lý Tử Trình dùng ngón tay cậy bung nút thắt dây gai, mở lớp vải dầu ra.
Bên trong không phải giấy bản hay lụa mỏng thông thường của nha môn, mà là một mảnh bản đồ da dê đã ố vàng, mép da bị gián nhấm nham nhở nhưng chất da vẫn dai chắc lạ thường. Mảnh da dê rộng chừng hai thước vuông, bề mặt đã ngả sang màu xám tro của thời gian, phủ những đường nét vẽ bằng mực tàu pha nước mật bò — thứ mực cổ không phai màu dù bị ngâm dưới nước sâu.
Nhưng tấm bản đồ không còn nguyên vẹn.
Nhiều đoạn mực đã bị tróc lở từng mảng do cọ xát lâu năm, nếp gấp ở giữa thân da nứt nẻ khiến một phần ký hiệu dòng chảy bị đứt đoạn, chỉ còn lại những vệt ố loang lổ như rêu bám.
Lý Tử Trình dùng hai đầu ngón tay cái đè phẳng mép da dê cuộn tròn lên mặt bàn gỗ tạp.
"Nhìn vào đây," giọng gã trầm hẳn xuống, cộc lốc đúng chất dân từng làm việc với giấy má trắc đạc cũ: "Đây là bản vẽ lòng dẫn sông Hát quanh chân lũy Luy Lâu do thầy tao để lại từ nhiều năm trước."
Vương Quang nghiêng người tới sát ngọn đèn dầu, nheo con mắt trái lại để quan sát từng nét vẽ còn sót lại. Chu Bá Cửu cũng tò mò ghé mắt nhìn, tay vẫn không buông chiếc xẻng sắt.
Trên mặt da dê, dòng sông Hát được thể hiện bằng hai nét cong uốn lượn, kẹp lấy chân thành cổ Luy Lâu. Tại khúc ngoặt bãi bồi nơi giàn tời gỗ nghiến vừa sập, nét mực vẽ bờ cát đã mờ gần hết, chỉ còn lộ rõ một ký hiệu vòm cuốn hình bán nguyệt.
Trong lòng vòm, người xưa vẽ vài vạch thẳng song song bị cắt ngang bởi một đường lượn sóng, nhưng phần đuôi nét vẽ đã bị ố đen không thể nhìn rõ hướng xoáy. Phía dưới vòm cuốn có ghi chú vài chữ triện chân phương bằng mực son, nét chữ bị mòn chỉ còn đọc được lõm bõm hai chữ:
“... Tả Triền...”
Phần chữ phía sau bị nước ăn loang lổ thành một vệt nâu nhạt, không còn nhận ra là tên công trình hay ghi chú luồng lạch.
"Vòm gạch vỡ ngoài bãi bồi..." Vương Quang cất tiếng, ngón tay trỏ chỉ vào ký hiệu vòm cuốn: "Địa sư làng chài đoán đó là dấu cống thoát nước của thành cũ."
"Lão Địa sư chỉ nhìn thấy cái cửa gạch hở ra trên mặt bùn thôi," Lý Tử Trình nhổ toẹt một bãi bã trầu xuống chân cột, giọng gằn lại: "Tao không dám bảo nó là cống thoát nước hay cái gì. Nhưng nhìn cách vòm gạch đặt sát chân bãi bồi, rồi nhìn những hàng cọc gỗ cũ từng đóng quanh mép cát... người xưa rõ ràng không dựng cái vòm cuốn ken vôi vỏ sò dày cộp ấy cho đẹp mắt. Đoạn sông này cát xốp, nước luồn chân rất mạnh. Có thứ gì đó đã được đặt và giữ ở dưới này từ rất lâu rồi."
Vương Quang nghe từng lời, không vội đồng tình hay phản bác.
Hắn rút thanh Thiết Xích Khảo Sát trên tay trái ra. Không dùng bất kỳ dụng cụ đo góc nào khác, hắn đặt cạnh vát thẳng tắp bằng thép nguội của thanh thước áp sát lên đường nét vẽ mô tả mép bãi bồi trên mặt da dê. Kế đó, hắn khẽ ngước mắt, nhìn qua khe cửa liếp thủng của gian quán rượu, hướng tầm mắt dọc theo phương thẳng của thanh thước sắt ra ngoài bờ sông.
Hướng của nét vẽ cổ trên tấm da dê gần như trùng với hướng của dòng phù sa đang xoáy cuộn quanh miệng vòm cống gạch ngoài bãi bồi.
Vương Quang lặng lẽ thu thước sắt về, không nói gì thêm. Một sự trùng hướng giữa nét vẽ cũ và dòng xoáy hiện tại chỉ đủ để đối chiếu không gian thực địa, chưa đủ căn cứ để chứng minh hai thứ được dựng nên cùng một quy cách hay cùng một mục đích.
Hắn nhìn Lý Tử Trình, cất giọng bình thản:
"Vòm gạch, cỗ gỗ và cách bố trí các hàng cọc quanh bãi quả thực có liên hệ vị trí với nhau. Còn người xưa đặt chúng để giữ thứ gì, giữ bằng cách nào... hiện tại chưa đủ dữ kiện để khẳng định."
Hắn dừng lại một nhịp, mắt dán vào vệt son chữ "Tả Triền" mờ nhạt:
"Nhưng nếu đó chỉ là một cấu trúc công trình ngầm cũ, vì sao người ta lại nhổ cọc dâu ở bến Bùi, rồi chuyển cỗ gỗ về Luy Lâu vào ban đêm? Và tại sao trên nắp gỗ lại có phiến đĩa đồng mười hai cánh sao gắn chiếc đinh nứt, bên dưới nắp rỉ dịch xám và có ngón tay bọc móng đồng?"
Lý Tử Trình im lặng một lúc lâu. Đôi mắt đỏ ngầu của gã nhìn trừng trừng vào ngọn lửa đèn dầu lạc đang chao đảo theo gió bấc. Gã lại cầm nậm rượu lên, hớp một ngụm nhỏ, tiếng rượu nuốt qua cổ họng nghe khô khốc:
"Tao không biết người xưa đóng cái gì bên trong cỗ gỗ. Nhưng trong những bản chép tay cũ tao từng đọc qua ở viện Khâm Thiên, có những chỗ người ta dùng chữ 'mượn tên', có chỗ lại chép là 'nạp đinh'. Tao không biết người đời trước thực sự làm gì với những thứ đó. Chỉ biết mỗi lần những chữ ấy xuất hiện trên giấy tờ, thì trong sổ đinh của nha môn địa phương lại có tên người bị sửa đổi trước khi có biến cố xảy ra ngoài luồng lạch."
"Tên người bị sửa đổi..." Thanh Diệp khẽ lặp lại, ánh mắt sắc lẻm nhìn Lý Tử Trình: "Có liên quan gì đến kẻ mang áo choàng lông quạ đen không?"
Nghe nhắc đến người áo quạ, cơ mặt Lý Tử Trình giật giật. Gã đặt nậm rượu xuống bàn, bàn tay run rẩy đưa lên vuốt chòm râu quai nón lởm chởm:
"Tao không biết kẻ đi ngựa trạm đêm nay là ai. Nhưng mười năm trước, khi tao còn phụ việc sao chép văn bộc ở kho bản đồ của viện Khâm Thiên, tao từng một lần nhìn thấy dấu phù hiệu ấy."
"Dấu phù hiệu thế nào?" Vương Quang hỏi.
"Một con quạ đen ba chân, trong mỏ ngậm một thanh thước sắt," Lý Tử Trình hạ giọng xuống, mắt liếc ra cửa liếp như sợ gió mang lời đi: "Nó được đóng bằng mực đen trên góc một bản vẽ trắc đạc cũ. Tao tò mò lật xem, nhưng toàn bộ phần lạc khoản ghi tên người lập, niên hiệu và cơ quan phụ trách phía dưới... đã bị ai đó dùng dao gọt bút cạo sạch từ trước. Không còn một chữ nào để biết nó thuộc về ai."
Vương Quang khẽ siết nhẹ đốc thước sắt.
Từ lời khai của Đề lại Hoàng về kỵ mã mang công văn đêm mười chín, cho đến con dấu son dầu trẩu trên trát của Đốc Phủ, và giờ là lời kể của Lý Tử Trình về con quạ ngậm thước sắt... Các dữ kiện không còn là những mảnh rời rạc ngoài bãi sông.
Hắn nhìn ra ngoài màn mưa phùn, buông một câu rành rọt:
"Có người đã chuẩn bị việc này từ trước. Không phải việc mà một viên Đề lại hay một viên Đốc Công bến bãi có thể tự ý làm được."
Hắn không võ đoán về một mạng lưới hay một cơ quan bí mật nào; giới hạn của một cựu Ký lục chỉ cho phép hắn xác định tính chất có tổ chức và sự chuẩn bị trước của chuỗi hành vi hành chính này.
"Chưa hết đâu," Lý Tử Trình bỗng cười gằn một tiếng, nụ cười méo mó.
Gã thò tay lật ngược mặt sau của tấm bản đồ da dê lên.
Mặt sau tấm da dê nhẵn thín, màu vàng sáp đã sẫm lại theo năm tháng. Thế nhưng, ngay tại góc dưới cùng bên hữu — vị trí tương ứng với dải bãi bồi ngoài kia — hiện rõ một dòng chữ viết bằng thứ mực son tàu đã phai:
“Giáp Tý niên, cắm đinh nạp mạng — thư lại Bùi Khê phụng lập.”
Vương Quang nhìn chằm chằm vào dòng chữ son ấy, con ngươi mắt trái co rút lại.
Nét chữ viết theo lối thảo triều trước, phóng khoáng nhưng gãy góc ở những nét sổ dọc, phần đuôi chữ hơi móc ngược lên trên như một chiếc lưỡi câu. Cách kéo nét sổ, chỗ hất đuôi chữ, cả vệt mực tụ lại ở cuối nét móc... quá giống với dòng chữ trên mảnh bì thư bọc da hươu mà hắn từng cạo được từ trong hốc đá chân cọc Môn ở bến Bùi vào đêm hăm hai tháng Chạp.
Nét chữ ấy khiến Vương Quang ngồi im phăng phắc.
Nhưng giống chữ không đủ để xác định người viết là ai, cũng không thể chứng minh tấm da dê này được lập tại bến Bùi Khê hay mang từ nơi khác tới. Hắn dùng đầu móng tay giữ nhẹ mép bản đồ, mắt không rời dòng chữ son đã phai.
Có người từng viết những chữ này từ một năm Giáp Tý xa xưa, trước khi chuyện vớt cọc ở bến Bùi xảy ra. Còn họ viết ra để ghi lại một nghi thức đê điều đã tồn tại từ trước, hay vì một nguyên do nào khác... hắn chưa có quyền đưa ra kết luận.
U... U... U...
Đúng lúc đó, từ phía ngoài lòng sông Hát mịt mùng mưa phùn, một hồi còi đồng rúc lên từng tràng dài, đanh và ráo hoác, xé toạc màn sương mù dày đặc.
Tiếp sau tiếng còi là tiếng xích sắt khổng lồ va đập ầm ầm vào mạn thuyền bọc đồng. Tiếng hô hoán của đám thủy thủ và tiếng bước chân rầm rập của toán lính áp giải thuộc Thủy Đạo Đề Đốc Ty vang lên huyên náo khắp bến bãi.
Chu Bá Cửu hoảng hốt chạy ra cửa liếp nhìn rồi quay phắt vào, mặt cắt không còn hạt máu:
"Thầy ơi! Xà lan bọc đồng... Chúng nó kéo cẩu cáp sắt rồi! Thằng quan Tuần Kiểm họ Tống hạ lệnh cẩu khối gỗ dâu lên thuyền ngay bây giờ!"
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.