Chương 125: Bản Đồ Không Có Đài Cọc
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
133 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 133/133 chương
Gió bấc rít qua khe liếp cửa chớp gian phòng Giá khố như tiếng rỉ sắt cọ vào lòng máng xối.
Mưa ngoài sân vẫn trút từng đợt dầm dề, gõ lộp độp lên những tấm đá phiến lát lối đi. Hơi nước buốt thấu xương lùa qua kẽ cửa, quện lấy mùi nồng ngái của long não lưu cữu, mùi giấm thanh dùng lau mốc nẹp tre và thứ mùi khoáng chất ngai ngái bám trên vạt áo tơi những kẻ vừa từ bờ sông Bùi trở về. Không khí trong phòng ẩm ướt, đè nặng lên từng nhịp thở thô ráp của bốn con người quanh chiếc bàn gỗ mít.
Vương Quang ngồi tựa lưng vào thành sập lim, đầu hơi nghiêng sang một bên.
Dải vải gai quấn quanh cổ tay phải của hắn đã bắt đầu nguội dần, lớp nước gừng sao nóng thấm qua ba vòng vải thô bốc lên chút hơi ấm cuối cùng rồi tan biến vào màn rét. Chu Bá Cửu quỳ một bên, hai bàn tay nứt nẻ vì giá buốt, cẩn thận dùng chiếc kẹp sắt gắp thêm hai hòn than xà cừ đỏ ửng từ chiếc lò gốm con góc phòng đặt vào âu đồng.
"Thầy... chườm thêm một lượt than nữa nhé?" Chu Bá Cửu thì thào, mắt liếc nhìn sắc mặt xanh xao của thầy mình: "Gân cổ tay thầy vẫn giật từng cơn thế này, lát nữa lật giấy bản mỏng sợ không ghìm nổi ngón tay."
"Cứ để nguyên," Vương Quang khẽ lắc đầu, giọng khàn đặc: "Ép nóng quá gân nó trơ ra, lát nữa lại không cảm nhận được thớ giấy. Khóa chặt bằng dải gai là được."
Hắn dùng tay trái chậm rãi nhấc thanh Thiết Xích Khảo Sát lên, đặt dọc theo mép đùi. Đầu ngón tay cái bên trái miết đều đặn trên những khấc chia tấc, phân của thân thước thép nguội ngắt. Kim loại đặc truyền qua da thịt một cảm giác thăng bằng cơ học, giúp hắn kiềm tỏa những luồng buốt nhói của chứng Hàn Uế đang cắn sâu vào khớp nối giữa xương cẳng tay và bàn tay phải.
Cạch... Rầm!
Tiếng then cài cửa nách bị giật mạnh từ phía ngoài sân. Cánh cửa gỗ lim dày cộp bật mở, gió mưa lùa theo bọt nước phù sa bắn tung tóe qua bậu cửa gạch tráng men.
Huyện thừa Lê cùng Chủ bạ Đặng lảo đảo bước vào. Cả hai ướt sũng, vạt áo the bết đặc bùn đỏ từ bắp chân lên đến tận thắt lưng. Hai tên lính tuần đinh lực lưỡng đi sát phía sau, hai tay ôm khư khư ba chiếc ống đựng bản đồ bằng đồng thau dài chừng ba thước, bên ngoài bọc da cá đuối đã ngả màu mốc xám, miệng ống niêm phong bằng sáp đỏ có đóng dấu triện vuông của Ty Địa bạ huyện sở tại.
"Bẩm... bẩm Ngự sử đại nhân!" Huyện thừa Lê thở dốc, đánh rơi cả chiếc nón mê xuống thềm gạch, hai hàm răng va vào nhau lập cập: "Hạ quan... đã cho người trèo lên tầng trên cùng của Tàng Bản Tháp... lục tung cả ba rương đồ bản của bản huyện... Đem về đủ ba bộ đồ bản bến Bùi qua các thời kỳ đây rồi ạ!"
Thanh Diệp không đổi tư thế. Nàng vẫn đứng thẳng bên mép bàn gỗ mít, trường bào màu thiên thanh không vướng một giọt bùn. Đôi mắt nàng quét qua những vệt niêm phong bằng sáp đỏ trên miệng ba chiếc ống đồng:
"Lau khô tay rồi mở niêm phong ra. Trải từng cuộn lên mặt bàn."
Chủ bạ Đặng run rẩy rút vạt áo lót khô ráo lau mười đầu ngón tay khẳng khiu, rồi cẩn thận dùng lưỡi dao gọt mực mỏng cạy từng mảng sáp niêm. Tiếng sáp khô vỡ lách tách.
Từ trong ba ống đồng trút ra ba cuộn bản đồ có kích thước và chất liệu hoàn toàn khác biệt. Mùi giấy bản tẩm phèn chống mối mọt pha lẫn mùi mực tàu cũ bốc lên ngai ngái, nồng đậm đến mức Chu Bá Cửu đứng bên cạnh phải khẽ hắt hơi một tiếng.
"Trải cuộn thứ nhất ra," Thanh Diệp ra lệnh.
Đó là bản đồ cổ nhất: Hồng Đức Niên Gian Bùi Khê Thủy Trình Bản Đồ.
Mặt bản đồ làm bằng lụa thô bồi trên ba lớp giấy bản dày, mép lụa đã sờn rách và ố vàng từng mảng lớn màu cánh gián. Nét vẽ bằng mực tàu đen nhánh theo lối cổ, ước lệ nhưng tỉ mỉ. Từng khúc lượn của sông Bùi, từng điếm tuần, bến đò, gò cát ngầm đều được định vị bằng những đường uốn lượn kèm theo chú giải bằng chữ Nôm chân phương.
Vương Quang bước tới mép bàn, tay trái cầm thanh Thiết Xích tì nhẹ lên góc bản đồ để giữ cho mép lụa không tự cuộn lại.
Mắt phải hắn khẽ giật một nhịp buốt buốt. Vòng đồng tâm nơi con ngươi lay động dưới ánh nến vàng vọt. Hắn đưa mũi thước thép rà dọc theo khúc ngoặt chữ chi của sông Bùi, dừng lại đúng ở khúc lượn gấp nơi chân đê bị sạt lở chiều nay.
Trên mặt bản đồ Hồng Đức, ngay tại lạch nước sâu của bến Bùi, người xưa đã dùng thứ mực đỏ pha bột khoáng vẽ một hình bát giác rõ nét.
Tám cạnh hình bát giác đều đặn, chính giữa tâm chấm một điểm mực đen tròn to bằng hạt đỗ. Cạnh hình vẽ có một dòng tiểu tự viết theo thể chân thư:
'Bát Giác Tang Cơ — Trực lập vỉa ngầm tam trượng nhị xích, trấn thủy nộ, hộ đê căn. Cấm tiệt đục phá'.
"Bát Giác Tang Cơ..." Thanh Diệp cúi sát người đọc từng chữ, ngón tay bọc bao da khẽ lướt cách mặt lụa nửa phân: "Nền cọc dâu tám cạnh. Cắm sâu ba trượng hai thước vào vỉa cát ngầm để ghìm thế nước dữ, bảo vệ chân đê... Từ đời Hồng Đức, triều đình đã ghi nhận sự tồn tại của kết cấu này."
"Không phải công trình gia cố thông thường của dân đinh," Vương Quang dùng đầu thước thép đo khoảng cách từ mép đê cổ đến hình bát giác: "Nhìn vào tỷ lệ xích khảo sát đời trước: một tấc trên lụa tương đương mười trượng thực địa. Đài bát giác này nằm tách rời khỏi tuyến kè đá hộc, cách mép chân đê tự nhiên đúng ba trượng hai thước. Nó là một điểm neo độc lập nằm giữa dòng xoáy, dùng tám khoang gỗ dâu để ghìm một dòng nước ngầm dưới chân đê trước khi nước xô vào thân kè."
Hắn ngước mắt nhìn Chủ bạ Đặng:
"Trải bản đồ thứ hai ra."
Cuộn thứ hai là bản vẽ bằng giấy dó dày khổ lớn: Bảo Thái Thập Cửu Niên Trùng Tu Bùi Khê Kè Lộ Đồ.
Bản đồ này được vẽ vào mùa xuân năm Bảo Thái thứ mười chín — đúng nửa năm sau cái đêm mười chín năm trước khi chiếc then đồng tám mươi cân biến mất và sáu người vô danh bị chôn bằng ván tạp.
Mặt giấy bản này còn tương đối trắng, chữ viết mực tàu sắc nét, góc dưới bên hữu có đóng dấu triện vuông màu đỏ tươi của Thủy Đạo Ty cùng chữ ký duyệt của Giám sát Ngự sử phụ trách đê điều thời bấy giờ.
Nhưng vừa nhìn vào khúc ngoặt bến Bùi trên tờ bản đồ này, hàng lông mày của Vương Quang lập tức nhíu chặt lại.
Hình bát giác độc lập nằm ngoài dòng nước đã biến mất.
Thay vào đó, đường nét biểu thị bờ kè đá hộc ven sông bị kéo dài ra một cách bất thường. Người vẽ đã nắn tuyến kè lấn thêm ra phía lòng sông đúng ba trượng, vẽ đè lên vị trí của đài cọc dâu cũ. Và ngay tại vị trí tâm xoáy, thay vì một hình bát giác tám cạnh, người ta chỉ vẽ một mảng hoa văn gạch chéo biểu thị: 'Kè đá hộc dằn móng — Thủy Đạo Ty tân lập'.
"Nó bị vẽ gộp vào bờ kè," Thanh Diệp cất giọng đanh lại, ánh mắt nàng lóe lên tia lạnh lùng: "Đài cọc dâu vốn nằm độc lập giữa lòng sông, nhưng bản vẽ sau sự cố lại kéo tuyến kè nhân tạo ra ngoài để 'nuốt' trọn vị trí của đài cọc vào trong bản vẽ kỹ thuật."
Vương Quang cúi thấp người xuống, đưa mắt nhìn nghiêng góc bốn mươi lăm độ dọc theo thớ giấy bản tẩm phèn.
Dưới ánh nến rọi xiên, trên mặt giấy nổi lên một vệt xước mỏng mảnh.
Có một đường mực tàu cũ đã bị người ta dùng cật tre nạo mỏng đi trước khi quét một lớp bột đá mịn hòa keo da trâu lên trên để vẽ đè đường kè mới. Vương Quang dùng mũi Thiết Xích gõ nhẹ vào vết gờ nổi:
"Họ không chỉ vẽ gộp. Chỗ này từng có một con số bị cạo đi."
"Con số gì?" Thanh Diệp hỏi.
"Độ sâu," Vương Quang nhìn vào dòng ghi chú bên dưới lớp nạo: "Bản đồ Hồng Đức ghi cắm sâu ba trượng hai thước vào vỉa ngầm. Nhưng bản vẽ năm Bảo Thái mười chín này lại ghi chú: 'Đáy sông bồi cát, sâu một trượng năm thước, đã phủ đá hộc kiên cố'. Con số độ sâu đã bị giảm đi một trượng bảy thước."
Thanh Diệp nheo mắt nhìn vết nạo: "Do sai số khảo trắc giữa hai triều đại? Hay do dòng sông bồi lắng tự nhiên?"
"Có thể có sai số do mùa nước hoặc kỹ thuật đo đạc khác nhau," Vương Quang đáp phẳng lặng, đầu ngón tay trái miết nhẹ lên vệt giấy mỏng: "Nhưng vết cạo này thì không phải sai số tự nhiên. Có người đã chủ động xóa con số cũ đi để ghi đè con số một trượng năm thước vào."
"Giảm bớt một trượng bảy thước trong hồ sơ..." Thanh Diệp trầm ngâm, ánh mắt dừng lại ở vệt mực son đóng đè: "Để làm gì?"
"Nếu con số này được dùng làm mốc chuẩn cho những lần khảo sát sau," Vương Quang nói chậm rãi: "Thì từ đó trở đi chẳng ai có lý do để đào sâu hơn một trượng rưỡi nữa. Nha môn sở tại chỉ việc đổ đá hộc dằn lên lớp mặt. Những khoảng rỗng và phần kết cấu kim loại bên dưới... sẽ vĩnh viễn nằm lại dưới lớp đá dằn và phù sa mà không còn ai tra cứu đến."
Hắn dừng lại một nhịp, thu mũi thước thép về:
"Nhưng đó là hậu quả phát sinh của việc sửa bản đồ. Còn người sửa nó thực sự muốn gì vào mùa xuân năm ấy... hiện giờ chúng ta chưa có căn cứ để kết luận."
Hắn đưa tay trái chỉ vào cuộn bản đồ thứ ba nằm trên bàn:
"Mở bản đồ hiện hành ra."
Chủ bạ Đặng khó nhọc gỡ chiếc ống đồng cuối cùng: Đương Triều Bùi Khê Địa Phận Canh Đê Toàn Đồ.
Bản đồ này vẽ cách đây ba năm, bằng giấy bản sản xuất từ các xưởng giấy kinh thành, nét vẽ mực in mộc bản sắc sảo, gọn gàng và vô cùng quy củ.
Trên bản đồ này, khúc lượn bến Bùi Khê chỉ là một đường vòng cung trơn tuột.
Không có hình bát giác. Không có mảng hoa văn đá hộc dằn móng. Càng không có bất kỳ dòng chữ nào nhắc đến cọc dâu hay độ sâu lòng sông.
Đài cọc Bùi Khê — một kết cấu ngầm bằng gỗ dâu và kim loại tồn tại từ thời Hồng Đức để ghìm thế nước ngầm khúc lượn này — đã biến mất hoàn toàn trên giấy tờ của triều đình.
Nó bị xóa sổ từng bước một qua mười chín năm: Thời Hồng Đức: Tồn tại độc lập như một điểm neo chịu tải. Năm Bảo Thái mười chín: Bị kéo gộp vào thân đê và giảm độ sâu ghi chép. Và hiện tại: Trở thành một khúc sông bình thường như mọi bến đò vô danh khác.
"Xóa sổ một công trình trên giấy," Thanh Diệp nhìn chằm chằm vào bản đồ hiện hành, giọng nàng trầm xuống: "Thứ bị xóa khỏi hồ sơ không nhất thiết đã biến mất ngoài thực địa. Mười chín năm qua, quan lại đời sau chỉ nhìn vào bản đồ mới nhất để giao việc. Kè hỏng thì đổ thêm đá, đất lún thì đắp thêm bùn. Cho đến chiều nay, khi con nước cường bốc lớp đá dằn đi, cái họng bát giác mới lại lộ ra."
Nàng quay phắt sang Chủ bạ Đặng, ánh mắt sắc như dao cạo:
"Bản đồ năm Bảo Thái mười chín do ai đo vẽ? Ai là người trực tiếp cầm thước đo đạc bến Bùi để lập nên bản vẽ này?"
Chủ bạ Đặng sợ hãi dập đầu sát đất:
"Bẩm... bẩm Ngự sử đại nhân! Bản đồ công trình cấp huyện năm đó không phải do nha lại địa phương vẽ ạ! Sau khi bờ kè bị sập, triều đình phái Thủy Đạo Ty cùng Khâm Thiên Giám cử một đoàn trắc thủ chính ngạch từ Kinh sư về... Họ mang theo xe đo, bàn trắc địa và thước đồng của Bộ Công. Nha môn huyện chỉ cử người chèo thuyền dẫn đường và phu dịch khuân vác hòm đồ thôi ạ!"
Vương Quang khựng lại.
Bàn tay trái đang cầm thanh Thiết Xích của hắn siết chặt lấy thân thép.
"Khâm Thiên Giám?" Hắn cất giọng hỏi, âm điệu bằng phẳng nhưng đáy mắt khẽ lay động.
Chủ bạ Đặng ngước lên, gật đầu lia lịa: "Dạ phải! Lúc ấy có hai vị quan trắc thủ mặc áo lục phẩm của Khâm Thiên Giám đi cùng đoàn. Họ mang theo cả bàn ngọc và la bàn đồng lớn lắm ạ!"
Vương Quang không hỏi tiếp.
Hắn cúi đầu nhìn dấu triện son vuông vức in ở góc bản đồ Bảo Thái mười chín.
Nếu quả thật có người của Khâm Thiên Giám từng đặt chân tới bến Bùi vào mùa lũ năm ấy, thì câu chuyện cạo sửa bản đồ này không còn đơn thuần là trò che giấu trách nhiệm của một nha môn cấp huyện. Mười chín năm trước, chính cơ quan mà hắn đang phục vụ — nơi nắm giữ bản đồ thiên văn và địa mạch của cả quốc gia — đã có người đặt bút ký duyệt vào một bản vẽ làm biến mất một đài cọc ngầm.
Nhưng hắn không nói ra suy nghĩ ấy. Có người của hệ thống từng đứng ở đây là một dữ kiện; còn người đó có tham gia vào việc sửa bản đồ hay không, hắn chưa biết.
"Người dẫn đường cho đoàn trắc thủ năm đó là ai?" Thanh Diệp lên tiếng, phá vỡ khoảng lặng ngột ngạt.
Chủ bạ Đặng chớp đôi mắt mờ đục, cố nhớ lại:
"Dạ... là một người thợ đóng cọc già ở xóm Tang Mộc dưới chân đê bến Bùi. Tên lão là Cả Đoan, chuyên nghề ngâm gỗ dâu và đóng cọc kè cho bến đò suốt mấy chục năm. Khi đoàn quan trên về khảo sát, chính lão Cả Đoan là người chèo thuyền đưa họ ra giữa dòng để thả quả chì đo nước!"
"Lão Cả Đoan đó còn sống không?"
"Bẩm... lão còn sống ạ!" Huyện thừa Lê vội vã chen vào: "Năm nay lão ngoài bảy mươi rồi, mắt mờ chân chậm, sống ở cái chòi ngâm gỗ ven bãi bồi cuối làng Thượng Bùi... Cách huyện nha chừng ba dặm đường đê thôi ạ!"
Thanh Diệp ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa chớp.
Mưa đêm vẫn dầm dề trút xuống, nhưng tiếng chuông điểm canh tư từ chùa huyện đã bắt đầu vang lên từng hồi u uẩn. Trời sắp chuyển về sáng.
Nàng quay sang nhìn Vương Quang:
"Ngươi đi nổi ba dặm đường đê lúc này không?"
Vương Quang nhìn qua song liếp cửa sổ. Gió bấc thổi rạt những giọt mưa lạnh buốt vào bậc thềm đá. Hắn cúi xuống nhìn bàn tay phải đang quấn chặt vải gai thô của mình, cảm nhận từng nhịp giật âm ỉ trong tủy xương.
"Sáng mai hãy đi," Vương Quang đáp, giọng bình thản.
Thanh Diệp hơi nhướng mày: "Ngươi không muốn đi ngay để tránh việc có kẻ đánh tiếng trước?"
"Không," Vương Quang chậm rãi lắc đầu, dùng tay trái khép cuộn bản đồ lụa Hồng Đức lại: "Ba dặm đường đê lầy lội, người già bảy mươi tuổi không chạy trốn trong đêm mưa rét thế này được. Hơn nữa, nếu lão thợ ấy đã sống được bảy mươi năm với nghề gỗ dâu, ta không muốn đến đập cửa dựng một người vừa tỉnh ngủ dậy giữa đêm để hỏi xem mười chín năm trước họ nhớ được những gì."
Thanh Diệp nhìn hắn vài nhịp thở, rồi khẽ gật đầu:
"Được. Cho lính trạm nghỉ lại công đường. Đầu giờ Mão xuất phát."
Vương Quang tựa lưng lại vào thành sập lim, nhắm mắt lại. Cơn đau nơi cổ tay phải dường như dịu đi đôi chút khi hơi ấm từ âu đồng của Chu Bá Cửu phả lên.
Lần đầu tiên kể từ khi đặt chân tới bến Bùi Khê, hắn không còn bận tâm đến việc phải lao xuống dòng nước xoáy hay lục lọi những trang giấy mục nữa. Hắn nghĩ đến một người thợ mộc già đã sống bên bờ đê suốt một đời người — một người có thể không biết chữ, không hiểu phép tắc quan trường, nhưng chắc chắn nhớ rất rõ mùi thớ gỗ dâu đã bị ai cưa đứt dưới đáy sâu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.