Chương 101: Quán Rượu Ngã Ba Sông Hát
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
103 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 103/103 chương
Sáng ngày hai mươi tư tháng Chạp.
Mưa phùn đã dứt, nhưng bầu trời bình nguyên xứ Đoài không hề có lấy một vệt hửng nắng. Một màn sương mù đặc quánh như sữa loãng từ mặt sông Hát dâng lên, là là là trên mặt ngọn cỏ năn, trùm kín những rặng đa cổ thụ buông rễ phụ khẳng khiu xuống mép nước phù sa. Gió đông bắc thổi từng luồng lạnh ngắt qua bãi bồi, mang theo mùi ngai ngái của đất bãi ngâm nước ngấu, mùi tanh của rêu bờ và vị mằn mặn của bùn lòng máng.
Từ trạm dịch Cửa Ngòi vượt sông Đáy sang đất xứ Đoài, cỗ ngựa trạm của Thanh Diệp và tên kỵ mã áo lông quạ luôn đi trước chừng trăm bước chân. Thanh Diệp không ngoái lại. Nàng chỉ giữ dây cương ở đúng một độ căng, để khoảng cách giữa ngựa và cỗ xe thồ luôn nằm trong tầm mắt. Chiếc trâm thép nguội cài trên búi tóc đen tuyền của nàng thi thoảng lóe lên một tia sáng lạnh tanh dưới màn sương mù mịt.
Vương Quang ngồi trên càng xe thồ gỗ nghiến do một con lừa còi kéo, Chu Bá Cửu đi bên cạnh cầm roi tre xua ruồi.
Khí lạnh xứ Đoài dường như mang một thứ ẩm ướt khác hẳn vùng bán sơn địa Bùi Khê; nó ngấm từ từ qua lớp vải chàm rách nát, luồn sâu vào vết mổ mưng mủ bên vai phải của Vương Quang. Mỗi nhịp bánh xe xóc trên đá cuội khiến vết thương giần giật buốt nhói. Nơi mắt phải, chiếc vòng tròn đồng tâm viền đen vẫn ôm chặt lấy rìa con ngươi; hắn phải liên tục nhổ bã trầu cay gắt ra vệ cỏ để mượn vị vôi nồng giữ cho đầu óc không bị chìm vào cơn lạnh rút xương.
Đến gần giờ Tỵ, sương mù loãng dần. Trước mắt họ, ngã ba sông Hát hiện ra như một chiếc phễu khổng lồ nuốt trọn phù sa.
Tại đây, dòng nước đỏ quạch dồn về hợp lưu với dòng nước xanh xám của nhánh sông Đáy. Hai dòng nước với hai màu sắc tách biệt rõ rệt không hòa lẫn vào nhau ngay, mà chém ngang mặt sông thành một đường ranh giới quanh co kéo dài hàng dặm.
Và ngay chính giữa điểm giao nhau của hai dòng nước, mặt sông bỗng cuộn lên một xoáy nước khổng lồ.
Xoáy nước rộng hơn ba trượng, lòng phễu trũng sâu xuống gần một thước nước, cuốn theo những đám bèo tây, rác rưởi và bọt bùn vàng ệch. Dòng xoáy không hề cuốn xuôi theo hướng chảy dồn của con nước, mà nó đang xoay tròn kịch liệt ngược chiều kim đồng hồ — một lực xoáy dữ dội ép toàn bộ thuyền chài, bè nứa qua lại khúc sông này phải nép sát rạt vào bờ đá phía bắc, không một ai dám thò mũi sào ra quá dải cát bồi.
Vương Quang ghìm con lừa lại, đứng trên mặt đê rút thanh Thiết Xích Khảo Sát ra khỏi bao vải.
Hắn thả con lắc dây rọi bằng đồng thau xuống mép nước ven bờ. Dây gai bện dầu run lên bần bật; con lắc đồng nặng nửa cân vừa chạm mép sóng đã lệch hẳn sang trái gần ba mươi độ. Hắn giữ nguyên dây rọi, đợi thêm một nhịp; con lắc vẫn giữ nguyên góc nghiêng, không hề trở về phương thẳng đứng.
Mặt nước ngã ba sông rõ ràng đang chịu một lực bẻ hướng rất mạnh từ phía lòng máng bên dưới.
"Thầy... Nhìn đằng kia kìa," Chu Bá Cửu thò bàn tay chỉ xuống bến cát dưới chân đê: "Có quán nước. Người đàn bà áo đen vào trong đó rồi."
Quán rượu ven bến đò sông Hát thực chất chỉ là một túp lều cắm bốn cọc tre đực già, mái lợp rạ mục nát, vách quây bằng phên nứa thủng lỗ chỗ cho gió bấc lùa qua ràn rạt.
Bên trong quán bốc lên một mùi hỗn tạp nồng nặc: mùi rượu ngô rẻ tiền chua loét, mùi cá mương phơi khô trên giàn nứa, mùi mồ hôi khét lẹt của đám phu đò và mùi thuốc lá bột ngâm nước điếu. Ba chiếc bàn gỗ mộc kê trên nền đất cát ẩm ướt đầy vỏ trấu và bã mía.
Thanh Diệp ngồi ở chiếc bàn trong cùng sát vách nứa. Tên kỵ mã áo lông quạ đứng chôn chân sau lưng nàng như một bức tượng gỗ, tay không rời đốc đoản đao. Nàng đã cởi tấm mạng lụa che mặt, để lộ khuôn mặt trái xoan với nước da trắng xanh dãi dầu sương gió, đuôi mắt dài và đôi môi mỏng mím chặt.
Bên cạnh bát nước chè tươi nguội ngắt, nàng đang mở hờ một cuộn giấy sắc phong viền chỉ đỏ — một bản danh sách phu phen và vật tư chuyển về Luy Lâu mang dấu triện đỏ của Đô Sát Viện. Từng cái tên trên bản danh sách đều bị nàng dùng móng tay bấm nhẹ một vết hằn sâu. Nàng có mục tiêu riêng của mình ở bến sông này, hoàn toàn tách biệt với những phép đo đạc của Vương Quang.
Khi Vương Quang và Chu Bá Cửu bước qua ngưỡng liếp, ánh mắt của nàng liếc qua hắn một nhịp lạnh băng, rồi dừng lại ở chiếc bàn tre trống cách nàng: Đúng ba bước chân.
Vương Quang ngồi xuống chiếc ghế tre đối diện chiếc bàn của mình, tay trái vẫn nắm chặt thanh thước sắt mòn vẹt. Chu Bá Cửu gọi một ấm nước chè nóng và hai củ khoai nướng, rồi ngồi thụp xuống bậu cửa canh chừng cỗ xe thồ.
Vương Quang trải cuốn sổ nhật trình trắc đạc lên mặt bàn tre, dùng mẩu than củi vót nhọn bắt đầu phác họa sơ đồ con nước: hướng chảy của hai nhánh sông và tâm phễu xoáy ngược chiều kim đồng hồ ngoài lòng bến.
"Dòng chảy này bất thường..." Hắn lẩm bẩm, ngón tay miết nhẹ lên đường vẽ góc nghiêng của con lắc đồng: "Lực xoáy ngược chiều dòng chảy tự nhiên. Bên dưới đáy máng cát ắt phải có vật cản..."
"Khà... ặc... Nhổ toẹt!"
Một tiếng khạc nhổ thô bỉ bỗng vang lên ngay cạnh bàn hắn.
Một búng bã trầu lẫn nước rượu chua loét bay qua khoảng không, rơi bẹp dí xuống đống vỏ trấu dưới chân Vương Quang.
Vương Quang khựng đầu than lại, ngước mắt nhìn sang góc bàn bên tả.
Tại chiếc bàn con kê sát chum rượu của bà hàng quán, một bóng người đang ngồi vắt vẻo một chân lên ghế tre.
Gã trạc bốn mươi tuổi, thân hình gầy nhẳng như chiếc cọc tiêu cắm bờ ruộng, khoác một manh áo the thâm rách toạc hai bên nách để lộ những dải xương sườn nhấp nhô. Khuôn mặt gã dài thượt như mặt ngựa, râu ria lởm chởm nửa đen nửa bạc mọc lộn xộn quanh chiếc cằm nhọn hoắt. Một bên mắt gã hí tịt như sợi chỉ, còn một bên mắt lại to tròn, tròng đen lúng liếng vẻ giễu cợt. Mười đầu ngón tay dài ngoẵng dính cáu ghét đang mân mê chiếc bầu rượu bằng gốm sành sứt mất một góc vòi.
Đó là Lý Tử Trình — kẻ mà đám phu đò và dân chài xứ Đoài vẫn gọi là "Lão Say" hay "Thầy Bói Quạ".
Gã nâng bầu rượu sứt lên miệng, ngửa cổ nốc một hớp lớn. Rượu ngô tràn qua khóe mép, rỏ ròng ròng xuống vạt áo rách. Gã chùi mép bằng mu bàn tay, con mắt to tròn đảo một vòng rồi dừng lại trên chiếc thẻ bài Ký lục treo bên ngực áo Vương Quang cùng những vạch khắc trên thanh Thiết Xích:
"Lại thêm một thằng nhãi vác thước của triều đình đi đo đất," Lý Tử Trình cất giọng khàn khè, cộc cằn như móng gà cào trên phên tre: "Mày vẽ cái gì đấy? Vẽ hình cái rốn nước ngoài sông à?"
Vương Quang không đáp. Hắn giữ vẻ mặt lạnh tanh của một cựu thư lại, cẩn thận gấp tờ giấy bổi lại định cất vào tráp.
Nhưng Lý Tử Trình không dừng lại. Gã chống tay lên đầu gối, nghiêng cái đầu mặt ngựa sang một bên:
"Mày vừa lẩm bẩm cái gì? Bảo dòng nước bị cưỡng ép đổi hướng? Bảo dưới đáy sông có vật cản?"
Vương Quang nheo con mắt trái:
"Dây rọi lệch ba mươi độ về phía tả. Phễu nước xoay ngược chiều dòng chảy. Đó là số liệu thực tế."
Lý Tử Trình nheo tịt nốt con mắt còn lại, cười rung cả bộ xương sườn:
"Ngươi đo được?"
"Đo được," Vương Quang đáp gọn.
"Đo được nó xoay ngược chứ gì?"
"Ừ."
Khuôn mặt dài như mặt ngựa của Lý Tử Trình bỗng sầm xuống trong tích tắc. Gã rướn người qua mặt bàn, phả thẳng một luồng hơi rượu chua nồng lẫn mùi phèn hắc búa vào mặt Vương Quang:
"Thế ngươi có đo được VÌ SAO nó xoay không?"
Vương Quang khựng lại. Ngón tay đang giữ mép thước sắt của hắn cứng đờ.
Hắn không trả lời. Hắn nhớ lại khối đá chữ "Trấn" dưới bến Bùi. Hắn từng đo được kích thước mộng đá, đo được độ sâu, đo được khe hở... nhưng hắn hoàn toàn không đo được biến cố xảy ra ngay sau đó.
Sự im lặng của Vương Quang kéo dài qua hai nhịp thở.
Lý Tử Trình nhìn trừng trừng vào vẻ mặt không đổi sắc của hắn, rồi ngửa cổ nốc nốt ngụm rượu cuối cùng.
CẠCH!
Chiếc bầu sứt vòi đập mạnh xuống mặt bàn tre. Gã gằn từng tiếng qua kẽ răng vàng khè:
"Thế thì câm mồm lại. Đừng nói vì sao."
Hắn chùi mép, giọng nói mang theo sự khinh bạc trần tục:
"Cậy cầm được cái thước sắt với con lắc đồng là tưởng mình đo được cả lòng sông! Ngươi đo được dòng nước xoay ngược, nhưng ngươi có biết dưới khúc bến này từng có bao nhiêu chiếc thuyền bị lật không? Ngươi có biết vì sao cả trăm năm nay thuyền bè qua đây đều phải nép bờ bắc, tuyệt đối không ai dám thả neo ở bờ nam không? Chưa biết những thứ đó... thì cái bản đồ mày vừa vẽ cũng chỉ để gói cá khô mà thôi!"
Vương Quang vẫn ngồi bất động, đôi môi mỏng mím chặt.
Cách đó ba bước chân, Thanh Diệp khẽ liếc nhìn Lý Tử Trình. Nhìn cách gã cầm bầu rượu và giọng điệu châm chọc quan trường, đuôi mắt nàng hơi nheo lại như vừa nhận ra một dấu vết cũ trong hồ sơ lưu trữ của nha môn. Nàng cuộn tờ danh sách sắc phong lại, cất giọng sắc lạnh:
"Lý tiên sinh, rượu ở bến sông Hát chưa đủ làm ngài say sao?"
Lý Tử Trình liếc xéo sang phía Thanh Diệp, con mắt to tròn giật nhẹ một nhịp khi nhìn thấy vạt áo tơi tráng nhựa đường và chiếc trâm thép nguội cài trên tóc nàng. Gã khẽ hừ mũi một tiếng, thu chân xuống đất, càu nhàu:
"Nhìn thấy người mặc áo nẹp từ Kinh kỳ mò về bến này là thấy tanh mùi máu rồi. Các ngươi muốn đến Luy Lâu chứ gì? Muốn xem khúc sông đào dưới chân thành chứ gì?"
Gã cười khẩy:
"Mấy hôm nay quan huyện sở tại với lão Đốc Công Thủy Đạo huy động cả trăm phu phen, thợ lặn, dựng giàn tời ngoài bãi bồi Luy Lâu. Họ bảo vớt chướng ngại vật làm nghẽn dòng chảy... Nhưng thợ lặn xuống bùn thì ngoi lên hai bàn tay rộp da như bị nhúng nước sôi. Các ngươi có giỏi thước, giỏi kiếm thì cứ tới đó mà đo!"
"Ầm ĩ cái gì ngoài bến thế kia?!"
Một tiếng quát tháo ngoài cửa liếp đột ngột cắt ngang lời Lý Tử Trình.
Mặt đất quán trọ bỗng rung nhẹ. Tiếng hò hét, tiếng bước chân huỳnh huỵch chạy trên cát ướt dội ngược vào trong:
"Kéo lên rồi! Kéo được một tấm ván trôi từ phía Luy Lâu về rồi!"
"Tránh ra! Đừng chạm tay trần vào gỗ! Thằng Tư bị rộp hết bàn tay rồi kìa!"
Vương Quang lập tức đứng bật dậy. Hắn cầm thanh Thiết Xích Khảo Sát, bước nhanh ra khỏi cửa liếp, Chu Bá Cửu vác xẻng sắt chạy sát theo sau.
Thanh Diệp và tên kỵ mã áo lông quạ cũng sải bước ra mép bến, giữ nguyên khoảng cách ba bước chân phía sau lưng Vương Quang.
Dưới bãi cát bồi ven ngòi nước, một đám đông gồm hơn hai mươi phu thuyền, thợ lặn đang xúm xít quanh một vật thể vừa được dùng chão gai kéo từ mép xoáy nước lên bờ. Hai tên thợ lặn mình trần quấn khố đang ngồi bệt trên cát, hai bàn tay giơ lên run rẩy: Lòng bàn tay của họ đỏ rực, phồng rộp lên từng bọng nước lớn như vừa chạm phải nước sôi, da thịt nứt toác rỉ nước vàng.
Nằm chôn một nửa dưới lớp bùn phù sa là một tấm ván gỗ mục.
Tấm ván dài đúng một trượng, dày chừng ba tấc, đẽo bằng gỗ dâu rừng đen sì như than đá, thớ gỗ ngậm nước lâu năm nặng trịch. Bao quanh mép tấm ván là một lớp dịch nhầy nhờn nhợt màu xám đục, bốc lên mùi nồng nặc của bùn ngâm ngấu lâu ngày.
"Tránh ra. Để người của nha môn kiểm tra," Thanh Diệp cất giọng đanh gọn, đưa tấm thẻ bài đồng lệnh chĩa về phía đám đông.
Đám phu đò nhìn thấy thẻ bài quan phòng lập tức sợ hãi dạt sang hai bên.
Vương Quang bước tới, quỳ một chân xuống lớp cát ẩm ướt cách tấm ván hai thước. Hắn không dùng tay trần chạm vào gỗ; hắn dùng đầu nêm thép của thanh Thiết Xích Khảo Sát cẩn thận gạt bỏ lớp bùn non và màng dịch màu xám bám trên bề mặt.
Lớp bùn trôi đi, để lộ đồ án chạm khắc chìm sâu trong thớ gỗ dâu.
Đó là những đường chạm trổ sắc cạnh: Một vành chim mỏ dài, đuôi xòe rộng, sải cánh bay nối đuôi nhau.
Và toàn bộ đàn chim ấy... đang bay ngược chiều kim đồng hồ, hướng thẳng về phía đầu ngọn của tấm ván gỗ!
Mắt trái Vương Quang nheo lại. Bàn tay trái ghìm chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát, hắn áp cạnh thước bằng thép nguội sát vào thớ gỗ đen ngâm bùn.
Mũi thước sắt rà qua từng chi tiết: thân ván dài vừa vặn một trượng, bề dày ba tấc. Mép gỗ bên tả có ba lỗ mộng tròn khoét sâu hai tấc nằm thẳng hàng — dấu vết của những chiếc đinh cỡ lớn từng đóng xuyên qua để ghép tấm ván vào một kết cấu dạng khung hộp kín. Tấm ván hoàn toàn phẳng lì, không hề có độ cong theo sống thuyền, cũng không có mộng ghép ngang của ván lườn bè mảng. Đường chim khắc trên gỗ khiến hắn nhớ tới những nét hoa văn lạ trên tấm da hươu mà hắn đang giấu kín trong nẹp áo.
Tấm ván này có dấu gãy ở phần mộng chịu lực, rõ ràng từng thuộc về một kết cấu lớn hơn. Còn kết cấu ấy nằm ở đâu, và bằng cách nào tấm ván này trôi dạt về tới ngã ba sông này, hắn chưa có dữ kiện để biết.
Vương Quang dùng đầu thước sắt gõ nhẹ vào phần gỗ còn nguyên.
Cộc.
Âm thanh phát ra đặc và ngắn. Hắn không nói một lời nào. Hắn không gọi nó là ván thuyền, cũng không đoán mò nó là nắp quan tài hay bửng cống ngầm. Hắn dừng lại ngay trước ranh giới của những gì mắt vừa thấy và thước vừa đo.
"Thế nào?" Giọng nói của Thanh Diệp vang lên ngay sau lưng hắn, đúng cự ly ba bước chân.
Vương Quang đứng thẳng người dậy, lau vết bùn bám trên đầu thước sắt vào búi cỏ khô, quay lại nhìn nàng bằng vẻ mặt lạnh lùng:
"Gỗ dâu rừng ngâm bùn. Hai người thợ lặn chạm tay vào lớp dịch xám này đều bị bỏng rộp da, có thể là chất đã ngấm trong thớ gỗ từ lâu. Tấm ván có dấu gãy ở mộng ghép, từng thuộc về một kết cấu lớn hơn."
Hắn dừng lại một nhịp, rồi nói thêm một câu dứt khoát:
"Còn kết cấu gốc là vật gì, nằm ở đâu... tôi chưa thấy tận mắt, chưa thể khẳng định."
Phía sau lưng họ, Lý Tử Trình đứng tựa vào cột quán tre, một tay cầm bầu rượu sứt, một tay gãi râu cằm lởm chởm. Con mắt to tròn của gã nhìn Vương Quang, khóe miệng khẽ nhếch lên một tia giễu cợt:
"Khá đấy thằng nhãi. Biết ngậm miệng lại trước khi nhìn thấy cái đáy của nó rồi đấy."
Gã ngửa cổ dốc ngược bầu rượu rỗng, rồi lẩm bẩm một câu mơ hồ bằng giọng điệu cộc cằn:
"Sông Hát ba dòng về một túi... Gỗ dâu nêm đinh giữ miệng giếng... Người sống đòi mở, người chết đòi cào... phen này đất Luy Lâu lại béo vì xác người rồi."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.