Chương 90: Lằn Ranh Bến Đò
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
96 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 96/96 chương
Gió bấc quất ràn rạt vào những tán thông đá ven sườn đông, kéo theo từng đợt mưa phùn lạnh buốt như châm kim vào da thịt.
Con đường tiều phu dốc đứng men theo vách đá tai mèo trơn trượt như bôi mỡ. Bốn gã tuần đò khỏe mạnh đi ủng đinh sắt, hai người khiêng cáng của Lão Bùi đi trước, hai người khiêng cáng của Vương Quang đi sau, từng bước chân giẫm lên sỏi vụn đều phát ra những tiếng lạo xạo nặng nề. Mỗi cú trượt chân của người đi trước làm chiếc cáng tre xóc nảy lên một nhịp, giằng mạnh vào bờ vai phải đang nẹp chặt của Vương Quang.
Chiếc phong bì bằng da hươu giắt sâu trong lớp nẹp tre cấn mạnh vào xương quai xanh. Mép da dày cộm chà xát lên vết mổ chưa liền miệng, cọ rách lớp vải chàm lót trong khiến máu tươi lại rỉ ra nhơm nhớp, nóng rực rồi nhanh chóng bị cái rét đêm đông làm cho nguội tanh. Cơn đau buốt thấu tận màng óc giần giật theo từng bước chân dồn dập, nhưng Vương Quang chỉ cắn chặt hàm răng vào đầu lưỡi đã rách bươm, tuyệt nhiên không hé răng rên rỉ nửa lời.
Hắn sợ cơn đau ngoài da thịt này tan đi.
Bởi vì ngay dưới lớp thịt da đang rách toạc kia, sâu trong tủy sống của hắn, luồng khí lạnh ngắt quái đản vẫn đang từng khắc rút sạch sinh khí trần gian.
Đó là cái lạnh của một kẻ đang chết dần từ bên trong. Các khớp ngón chân của Vương Quang đã cứng đờ, hai bắp đùi tê dại mất dần cảm giác xúc giác; lồng ngực hắn nặng trĩu như bị ai đè một tảng đá vôi ngâm nước giếng sâu lên khí quản, mỗi hơi thở hắt ra đều khò khè buốt rát. Các đầu ngón tay trái của Vương Quang đã tím bầm, lớp da đầu ngón tay nhăn nheo, tái ngoét như người ngâm nước lâu ngày.
Lại chìm vào bóng tối nữa rồi...
Thần trí Vương Quang bỗng chao đảo một nhịp. Trước mắt hắn, màn sương muối mịt mùng và ánh đèn bão chập chờn của đám tuần đò bắt đầu nhòe nhoẹt đi, biến thành những vòng xoáy xám đục lờ đờ trôi. Nhịp tim trong lồng ngực hắn đập chậm lại một cách đáng sợ, rời rạc và nặng nề tựa như tiếng chày nện bùn cạn.
Không thể để mình thiếp đi. Một khi nhắm mắt buông xuôi trong cái rét rút tủy này, hắn biết chắc tim mình sẽ ngừng đập trước khi chiếc cáng tre chạm được tới chân đèo.
Vương Quang khẽ cử động bàn tay trái đang buông thõng bên mép cáng. Các ngón tay hắn mò mẫm trên lớp cành thông lót sàn, chạm phải một mảnh dăm đá vôi sắc nhọn cỡ nửa đốt ngón tay bị vỡ ra lúc bện cáng.
Hắn thò ngón trỏ và ngón cái bốc lấy mảnh đá, giấu gọn vào lòng bàn tay trái, rồi dùng cạnh đá sắc lẹm cứa mạnh một đường ngang lòng bàn tay.
Xoẹt.
Cạnh đá cứa rách da thịt, rạch một vệt dài từ gò bàn tay qua kẽ ngón út.
Máu tươi lập tức ứa ra, rỉ qua kẽ các ngón tay rỏ xuống đống cành thông ướt sũng. Cơn đau buốt rát ngọt xớt của da thịt trần thế bị cào rách giáng một đòn nặng nề vào khối óc đang mụ mẫm, kéo giật luồng ý thức của Vương Quang bật dậy khỏi bờ vực mê man.
Hắn thở hắt ra một ngụm khí đục, chớp mạnh con mắt trái. Mắt hắn ráo hoảnh trở lại, tầm nhìn đã lấy lại được đường nét thô ráp của bờ đá và ánh đèn bão phía trước. Hắn nắm chặt bàn tay trái lại, để cho miệng vết cứa tiếp tục rỉ máu và nhói buốt, mượn chính cơn đau ấy làm cái mỏ neo ghìm giữ sự tỉnh táo của mình giữa đêm đông.
Bên cạnh cáng tre, Chu Bá Cửu bước thấp bước cao, hơi thở dồn dập phả ra từng luồng khói trắng. Chiếc gùi tre nặng trịch trên lưng gã — nơi giấu kín chiếc hộp gỗ trắc bọc vải gai chứa mảnh đá bát giác dưới đáy — kẹp cùng chiếc búa tạ mười cân của Lão Bùi trĩu nặng xuống hai bờ vai gầy guộc. Chiếc sào tre bịt sắt trong tay gã gõ xuống mặt đá lách cách từng nhịp, mắt đảo quanh nhìn vào màn sương đen kịt hai bên vách núi, cả người run lên bần bật vì kiệt sức và sợ hãi.
Đoàn người cắm cúi đi men theo gờ đá sườn đông chừng hơn dặm đường. Khi con đường mòn tiều phu đâm xuyên qua khúc ngoặt có rặng mâm xôi rừng rậm rạp, gã tuần đò đi đầu khiêng cáng của Lão Bùi bỗng vấp chân vào một vật cản nằm ngang rãnh nước.
"Ối giời đất ơi!"
Gã tuần đò thất thanh kêu lên, loạng choạng suýt buông tay đòn. Chiếc cáng tre chao đảo dữ dội, người đi sau vội vàng gồng lưng ghìm chặt cán gỗ lại.
Viên Trưởng tuần bến mặc áo lục sẫm viền chàm lập tức bước rảo lên phía trước, ngọn đoản đao rút soạt ra khỏi bao sắt, tay kia nâng cao chiếc đèn bão bằng đồng soi thẳng xuống mặt đất.
Ánh sáng vàng đục của ngọn đèn quét qua lớp lá thông mục và bụi gai cằn cỗi.
Nằm vắt ngang qua rãnh nước chảy dưới chân bụi mâm xôi là một thi thể đàn ông mặc áo vải thô nâu rách toạc, chân xỏ đôi dép cỏ bện đay. Cổ họng người chết há toang hoác một vết chém sâu hoắm cắt ngang yết hầu, máu đọng quanh cổ áo đã se lại thành một mảng thẫm màu cáu bẩn. Đôi mắt đục ngầu của cái xác trợn trừng nhìn ngược lên vòm cây rậm rạp.
"Khoan đã... Đây là..."
Một gã tuần đò cầm sào tre soi sát ngọn đuốc con vào khuôn mặt tím tái của người chết, hai tròng mắt trợn tròn:
"Lục Đinh! Là thằng Đinh dịch phu trạm dưới!"
Tiếng xôn xao lập tức bùng lên giữa đám tuần đò. Một tên khác cúi xuống sờ vào bả vai lạnh ngắt của cái xác, giọng thất thanh:
"Đúng là nó rồi! Chập tối hôm qua nó nhận lệnh của huyện nha dẫn ba con ngựa trạm áp tải hàng lên Đèo Gió... Sao giờ lại nằm chết banh họng ở cái góc khuất này?"
Viên Trưởng tuần bến đứng sững lại. Ánh mắt gã từ thi thể Lục Đinh chầm chậm dời sang phía Chu Bá Cửu đang đứng co ro sau chiếc cáng tre, rồi dừng lại trên chiếc gùi tre phủ chiếu rách và thanh búa tạ sắt nặng trịch trên tay gã phu trạm.
Bầu không khí trên con đường mòn bỗng chốc đông cứng lại. Sự nghi kỵ của một kẻ quen việc tuần phòng lập tức dâng lên trong đáy mắt viên Trưởng tuần. Gã lùi lại nửa bước, mũi đoản đao hạ thấp xuống ngang ngực, thanh âm trầm hẳn xuống:
"Lục Đinh chết ở đây... Còn các người lại từ trên đỉnh đèo đi xuống. Lão già trên cáng kia thì gãy chân, người này thì mang gùi lớn búa nặng... Chuyện này là thế nào?"
Bốn gã tuần đò xung quanh cũng lập tức nắm chặt lấy cán giáo ngắn, ánh mắt nhìn Chu Bá Cửu đầy vẻ dò xét và đe dọa.
Chu Bá Cửu sợ đến mức bủn rủn cả chân tay, chiếc búa tạ mười cân suýt nữa tuột khỏi bàn tay thô kệch. Gã cuống cuồng lắc đầu, lắp bắp không nên lời:
"Không... không phải con... Chúng con đi cùng thầy Quang... Đến đây thì... thì đã thấy..."
"Để ta nói."
Một giọng nói trầm đục, khàn đặc cất lên từ chiếc cáng tre phía sau.
Viên Trưởng tuần quay đầu lại. Dưới ánh đèn bão le lói, Vương Quang khó nhọc gượng nửa thân trên dậy, tựa lưng vào giàn cọc tre của cáng. Khuôn mặt hắn trắng bợt, môi thâm sì, nhưng ánh mắt nhìn thẳng vào viên Trưởng tuần lại phẳng lặng đến lạnh người.
Bàn tay trái của hắn — đang rỉ máu từ vết cứa mới — khẽ giơ lên, ngón trỏ chỉ thẳng xuống lớp bùn đất quanh bụi mâm xôi:
"Nhìn xuống đất đi."
Viên Trưởng tuần nhíu mày, hạ thấp ngọn đèn bão theo hướng ngón tay của Vương Quang.
"Dưới đất có dấu móng sắt của ít nhất ba con la, kéo từ hướng trạm tời Thác Khói, đi qua chỗ thi thể này rồi xốc thẳng lên đỉnh đèo," Vương Quang cất giọng chậm rãi, từng chữ rành rọt như lời khai đối chiếu: "Cạnh dấu chân la có những giọt dầu thông rơi rớt thành vệt ngắt quãng. Vết chém trên cổ người chết đi từ phía sau gáy vòng sang bên hữu, miệng vết thương há rộng, máu đã se màng dẻo quánh từ khá lâu. Ít nhất hắn đã chết trước khi bọn ta xuống khỏi lán đá."
Hắn dừng lại một nhịp để lấy hơi, lồng ngực ran rát buốt nhói:
"Người chết từng đi cùng một hướng với toán người dắt la lên đỉnh đèo. Bọn ta gặp nạn dưới lán đá phu mỏ cũng vì toán người mang la ấy xông vào. Còn ai đã hạ thủ giết hắn... nơi này chưa đủ dấu vết để nói."
Viên Trưởng tuần cúi sát ngọn đèn bão xuống mặt đất kiểm tra. Từng dấu móng sắt in hằn trên lớp bùn xám, những vệt dầu thông rơi rớt đúng như lời Vương Quang vừa chỉ ra. Dấu vết bùn đất và hướng di chuyển của dấu chân la hoàn toàn trùng khớp với việc có một toán người trang bị vũ khí đã đi qua đây từ trước đó.
Ánh mắt viên Trưởng tuần giãn ra một chút. Gã nhìn vào bộ áo chàm tàng thư rách nát của Vương Quang, lại nhớ đến tấm thẻ bài Hành Trình Ký Lục mang ngấn niêm quan phòng lúc nãy. Một người mang thân phận Ký lục quen nhìn hiện trường và đối chiếu dấu vết đã nói ra những chứng cớ rành rành như thế, đám tuần đò địa phương không có lý do gì để nghi ngờ thêm.
Gã Trưởng tuần thu ngọn đoản đao vào bao sắt, thở dài một tiếng:
"Khốn nạn thật... Thằng Đinh này có mẹ già ở xóm Chài bến Bùi, chuyến này coi như mất mạng oan uổng... Mau, lấy chiếc chiếu cói dự phòng buộc sau lưng gùi ra, bó thi thể nó lại khiêng xuống bến!"
Hai tên tuần đò lập tức bước tới, tháo chiếc chiếu cói bện dây đay mang theo trải ra bên cạnh thi thể. Một tên nắm lấy hai vai, tên còn lại thò tay xuống định nhấc hai bàn chân của Lục Đinh lên.
"Khoan đã... Cái gì thế này?"
Gã tuần đò nắm vai Lục Đinh bỗng giật mình kêu lên, tay run rẩy dừng lại giữa chừng.
Viên Trưởng tuần và Vương Quang cùng đưa mắt nhìn xuống.
Dưới ánh sáng vàng vọt của đèn bão, hai bàn tay của người chết đang co quắp cứng đờ trước lồng ngực. Mười ngón tay gầy guộc, gân xanh nổi cộm như rễ cây khô, đang siết chặt lấy một sợi dây gai se ba to bằng ngón tay trỏ.
Đoạn dây gai ấy đã bị đứt rời ở đầu ngoài, chỉ còn lại một đoạn dài chừng ba thước ngập trong bùn đất.
Thế nhưng, trong khi phiến đá vôi và lớp lá thông khô quanh bụi mâm xôi đều ráo hoảnh vì nằm trên gờ dốc đón gió, thì thớ dây gai thô ráp trong tay người chết lại sũng nước. Đó là một thứ bùn đen kịt, nhơ nhớp, bốc lên mùi tanh nồng của đáy vực sâu; từng giọt nước đen ngòm vẫn chầm chậm rỉ ra từ kẽ dây, nhỏ giọt xuống ngực áo thô ráp của cái xác:
Tách... tách...
"Gỡ cái sợi dây thừng bẩn thỉu ấy ra!" Viên Trưởng tuần gắt khẽ: "Để thế làm sao bó chiếu?"
Gã tuần đò gật đầu, đưa hai bàn tay thô kệch nắm lấy cổ tay người chết, dùng sức bẻ ngược các ngón tay của Lục Đinh ra.
Rắc!
Một tiếng rạn khô khốc của khớp xương vang lên giữa đêm vắng.
Mười ngón tay của người chết không hề bung ra. Chúng cứng đờ như sắt nguội, các đốt ngón tay bấm sâu vào thớ dây gai sũng bùn đến mức móng tay lún ngập vào sợi đay. Nếu dùng sức bẻ thêm một tấc nữa, toàn bộ xương ngón tay sẽ gãy vụn trước khi sợi dây chịu buông rời.
Gã tuần đò hoảng hốt rụt vội hai tay lại như bị rắn cắn, mặt xám ngoét nhìn viên Trưởng tuần:
"Không... không gỡ được bác Trưởng ơi! Tay nó bấm chặt cứng thế này, bẻ nữa là gãy nát xương mất!"
Một nỗi bất an lạnh lẽo bao trùm lên đám tuần đò. Những kẻ quanh năm sống trên sông nước, quen nhìn thấy người chết đuối cũng chưa từng thấy một cái xác chết trên cạn nào lại nắm chặt một sợi dây ướt sũng bùn ngầm với một vẻ ngoan cố kỳ quặc đến thế.
Viên Trưởng tuần bến rùng mình một cái. Gã nhìn sợi dây gai đen kịt rỉ nước, rồi nhìn vết chém sâu hoắm trên cổ Lục Đinh, vội vã xua tay:
"Thôi! Đừng bẻ nữa! Để nguyên sợi dây đấy! Trải chiếu quấn kín từ đầu đến chân rồi lấy dây đay buộc chặt lại, mau lên!"
Đám tuần đò không dám chần chừ nửa khắc. Chúng vội vã vần thi thể Lục Đinh lăn vào giữa chiếc chiếu cói, quấn ba lớp kín mít rồi dùng dây đay thắt chặt bốn đoạn, luồn một thân sào tre qua giữa làm cáng khiêng. Mùi bùn đen tanh tưởi bốc ra từ đầu sợi dây gai thò ra ngoài mép chiếu khiến ai nấy đều cắm đầu bước nhanh, không một ai dám ngoái đầu nhìn lại bụi mâm xôi rừng phía sau lưng.
Vương Quang nằm im trên chiếc cáng tre, mắt trái dõi theo chiếc chiếu cói đang nhấp nhô đi phía trước.
Trong túi áo ngực của hắn, chiếc thẻ bài bằng gỗ thị khắc chữ “Bùi Khê huyện nha — Dịch phu Lục Đinh” cấn nhẹ vào da thịt. Hắn không giao tấm thẻ ra. Một người chết giữ chặt một sợi dây ướt bùn đen, mang theo một tấm thẻ bài dịch trạm... Dấu vết của cõi sống và cõi chết đã đan cài vào nhau quanh cái chết này, giao thẻ ra lúc này chỉ khiến chính hắn bị cuốn sâu hơn vào vòng xoáy nghi vấn.
Đoàn người tiếp tục đổ dốc giữa đêm đông mịt mùng.
Gió núi gào thét yếu dần khi họ xuống gần tới chân đèo. Mùi cây cỏ ẩm mục và mùi vôi đá của vách núi Thác Khói bắt đầu nhường chỗ cho một thứ mùi vị quen thuộc của miền sông nước: mùi bùn non phù sa, mùi cá chết tanh nồng và mùi mặn gắt của muối biển tích tụ lâu ngày trong các kho bãi.
Qua khỏi khúc ngoặt cuối cùng dưới chân rặng thông, con đường mòn tiều phu mở toang ra một vùng bình nguyên thoai thoải.
Bến Sông Bùi hiện ra trước mắt họ dưới ánh sáng mờ đục của canh năm rạng sáng.
Đó là một dải đất bồi chạy dài dọc mép nước, nơi đặt Điếm tuần sông Bùi — một cụm nhà kho ba gian lợp lá gối hạc cũ kỹ, tường vách trát bằng đất rơm dầm phân trâu, chuyên dùng làm nơi thu thuế đò giang và chứa muối trung chuyển của huyện nha. Phía sau điếm tuần là một dãy cọc gỗ lim cắm sâu vào bãi cát, nơi thường ngày có hàng chục con thuyền nan và xà lan chở hàng buộc dây san sát.
Thế nhưng, cảnh tượng hiện ra dưới bến đò lúc này lại toát lên một vẻ xao xác, dị thường.
Nước sông Bùi trong mùa đông tháng Chạp vốn đỏ ngầu phù sa, cuộn sóng ầm ầm từ mạn ngược đổ về xuôi. Nhưng sáng nay, mặt nước dòng sông lại phẳng lặng một cách quái đản, dập dềnh từng đợt sóng ngầm nặng trịch như nước ao tù.
Và ở ven bờ đá thoai thoải — nơi những gờ đá vôi xám nhô ra mép nước — từng vệt váng dầu màu đen kịt đang rỉ ra từ kẽ cát, kết thành từng mảng lớn nhớp nháp dạt ngược vào bờ. Thứ váng dầu đen ấy không trôi xuôi theo dòng chảy của sông, mà cứ quẩn quanh bám chặt vào chân các cọc gỗ lim, bốc lên một mùi tanh nồng của bùn sâu đáy vực lẫn với mùi dầu thông nồng nặc.
"Trời ơi... Nước sông làm sao thế này?" Một tên tuần đò buông cáng xuống bãi cát, chỉ tay ra mép nước lẩm bẩm.
Viên Trưởng tuần bến không đáp lời. Bước chân gã đột ngột khựng lại, ánh mắt dán chặt về phía mạn bắc của bến đò — nơi có một chiếc cầu tàu bằng gỗ nghiến vươn dài ra giữa dòng nước lững lờ.
Dưới chân cầu tàu ấy, lẩn khuất sau làn sương sớm dày đặc, bóng một chiếc thuyền tuần giang mũi nhọn đang lặng lẽ cắm sào đứng đợi.
Con thuyền dài hơn năm trượng, thân thuyền đóng bằng gỗ kiền kiền đen bóng, khác hẳn những chiếc thuyền nan nan tre lợp mái nứa vá chằng vá đụp của tuần đò huyện Bùi Khê. Dọc hai bên mạn thuyền là hàng khiên gỗ bọc da trâu viền sắt cắm san sát, cọc neo ở mũi bịt đồng thau sáng loáng. Trên cột mũi treo một chiếc lồng đèn lụa xanh thêu hình cánh cung lồng trong khung vuông — dấu hiệu quan phương của nha môn phụ trách vận tải liên huyện.
Hai người lính tuần áp mạn đứng thẳng như tượng đồng trên mũi thuyền. Họ mặc áo nẹp sắt màu chàm thẫm, đầu đội nón dấu sơn then, tay chống đoản mác bất động giữa gió sớm, ánh mắt sắc lạnh quét qua từng người trong đoàn khiêng cáng vừa bước xuống bãi cát.
Viên Trưởng tuần bến vừa nhìn thấy chiếc đèn lồng lụa xanh và hàng khiên da trâu liền biến sắc. Gã vội vàng buông tay đòn cáng, đưa tay vuốt vội vạt áo lục sẫm lấm lem bùn đất, dáng vẻ ngang tàng lúc ở trên đèo lập tức biến mất, thay vào đó là sự khúm núm, cẩn trọng của một lại dịch cấp thấp khi đột ngột chạm trán nha sai cấp trên:
"Thuyền của Đốc Vận Ty... Sao lại cập bến này vào giờ này?"
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.