Nhân Gian Có Màn

Chương 139: Rời Doanh Lên Ải

Đăng: 16/10/2026 14:28 3,796 từ 9 lượt đọc

Bến Đông Bộ Đầu lúc tờ mờ sáng chìm trong một màn sương mù xám đục. Gió bấc từ mặt sông Hồng thổi thốc lên bờ, mang theo hơi nước buốt giá và mùi phù sa ngai ngái của những ngày cuối xuân.

Cầu tàu bằng gỗ lim ẩm ướt vang lên những tiếng bước chân dập dồn, tiếng hô hoán khản đặc và tiếng xích sắt va đập loảng xoảng. Ba mươi đinh phu vạm vỡ cởi trần, mặc độc chiếc quần lá tọa, đang gồng mình bẩy những rọ đá, cọc thép và hai bộ giàn tời từ trên ba cỗ xe trâu xuống khoang của hai chiếc thuyền mành thân lớn. Khối lượng sắt thép và gỗ lim quá nặng khiến mạn thuyền chao đảo dữ dội, nước sông đập lép bép vào lườn gỗ.

Đứng trên mũi chiếc thuyền đi đầu, Tư vụ Phan Đình Giản khoác áo tơi cọ, tay lăm lăm chiếc roi da trâu. Y không màng đến gió rét, đôi mắt sắc như dao chằm chằm nhìn theo từng nhịp di chuyển của phu dịch. Hễ thấy đám người có dấu hiệu chệch choạc làm nghiêng trục tời, y lập tức quất roi vút vút vào không khí, cất giọng ồm ồm thúc giục: "Khóa chặt chốt hãm lại! Lót rơm rạ dưới đáy rọ sắt! Sóng đánh trượt cọc thép lủng lườn thuyền thì tất cả bỏ mạng dưới lòng sông trước khi lên đến ải!"

Ở chiếc thuyền phía sau, nhóm Khâm Thiên Giám đang cẩn thận khuân vác các hòm đồ trắc địa.

Vương Quang mặc trường bào vải thô màu chàm, ống quần xắn cao quá mắt cá, bước chậm rãi qua tấm ván cầu tàu trơn trượt. Hắn không dùng tay phải, cẳng tay chỉ khẽ tì sát vào mạng sườn dưới lớp áo dày. Thay vào đó, hắn dùng tay trái xách chiếc tráp gỗ bọc da cá đuối đã được miết kín sáp ong, giữ trọng tâm cơ thể thật vững trước những đợt rung lắc của sóng nước.

Đỗ Bình và Trần Húc đi ngay phía sau, mỗi người vác một bao tải bọc vải dầu chứa ba chiếc la bàn thủy, cuộn dây rọi tơ và những chiếc cọc tiêu bằng gỗ thị. Cả hai đều có vẻ mặt trầm ngâm, liên tục liếc nhìn sang khối lượng vật tư đồ sộ của đội Bộ Công ở thuyền bên cạnh.

"Họ mang theo cả đục phá đá và nêm sắt cỡ lớn," Trần Húc hạ giọng nói với Vương Quang khi ba người đã bước yên vị vào trong khoang thuyền bọc cói: "Với ngần ấy đồ lề, lão Phan Đình Giản dường như đã tính sẵn phương án nung nổ mìn bất chấp chúng ta có tìm thấy mốc chuẩn cũ hay không."

"Mọi thứ vẫn phải đợi đến khi đối chiếu số đo thực địa," Vương Quang đặt tráp gỗ lên đùi, dùng tay trái cẩn thận kiểm tra lại chốt khóa đồng: "Trần huynh, Đỗ huynh, kiểm tra lại nắp đậy của mấy hộp la bàn thủy. Đi đường sông sương mù dễ làm hơi nước đọng dưới mặt kính kính, kim chỉ nam sẽ bị rít."

Hai vị trắc thủ gật đầu, lập tức lôi các bọc đồ nghề ra kiểm tra. Thằng Cửu chạy lăng xăng phụ giúp họ lau lại bề mặt các thanh thước đồng.

Khi sương mù trên mặt sông bắt đầu tan bớt, tiếng chiêng lệnh vang lên từ mũi thuyền của Phan Đình Giản. Hai chiếc thuyền mành nhổ neo, rẽ sóng ngược dòng sông Hồng tiến về phía ngã ba sông Hát.

Khúc thủy lộ đầu tiên khá êm ả, nhưng ngay khi thuyền chuyển hướng rẽ vào dòng Hát Giang, cảnh sắc xung quanh biến đổi đột ngột. Lòng sông thu hẹp lại, hai bên bờ phù sa trù phú nhường chỗ cho những vách đất dựng đứng. Nước sông từ màu đỏ quạch chuyển dần sang màu xám đục, cuộn lên những vòng xoáy nhỏ sắc lẻm. Bầu không khí cũng trở nên nặng nề hơn, âm u và lạnh lẽo, như thể họ đang từ từ đi vào cái bóng khổng lồ của một dãy núi vô hình.

Đến trưa ngày thứ hai, đoàn thuyền cập bến tại một trạm trung chuyển nhỏ nơi thượng nguồn sông Hát. Từ đây, theo quy chế đường dịch lộ, toàn bộ thiết bị phải được dỡ lên bờ, chuyển sang dùng xe bò và ngựa trạm để tiến sâu vào vùng núi đá vôi Chi Lăng.

Hành trình đường bộ gian nan hơn gấp bội.

Đồng bằng lùi dần lại phía sau. Con đường đất nện đỏ lởm chởm đá hộc, ngoằn ngoèo bám theo sườn núi như một con rắn thương tích. Hai bên đường là những dãy núi đá vôi xám xịt, lởm chởm những mũi nhọn hoắt đâm thẳng lên nền trời mây mù. Thảm thực vật ở đây còi cọc, chỉ có những bụi gai vôi và rêu phong bám chặt vào vách đá. Gió núi luồn qua các hẻm sâu, tạo ra những tiếng hú dài rợn gợp.

Vương Quang ngồi trên lưng con ngựa trạm lông khoang, tay trái cầm chắc dây cương. Hắn chủ động tụt lại phía sau đội hình, giữ một khoảng cách vừa đủ với cỗ xe bò đang ì ạch chở giàn tời của Bộ Công.

Cái lạnh đặc trưng của vùng núi đá vôi không giống cái rét của gió bấc đồng bằng; nó mang theo hơi ẩm ướt, tanh nồng của thứ bùn đất bị ngâm dưới nước ngầm ngàn năm, thẩm thấu qua lớp áo bông, trực tiếp thấm vào da thịt. Khớp cổ tay phải của Vương Quang bắt đầu phản ứng. Dù đã có lớp da thuộc bọc bên ngoài, vết sẹo nạo xương vẫn râm ran một cảm giác nhức buốt âm ỉ, như thể có những mảnh băng nhỏ đang nứt ra bên trong đường gân.

Hắn cắn chặt răng, duy trì tư thế lưng thẳng tắp. Hắn không nhắm mắt vận khí, cũng không tự xoa bóp. Hắn chỉ đơn giản ép nhịp thở của mình chậm lại, hít sâu qua mũi và thở hắt ra bằng miệng, dùng sự tập trung của lồng ngực để phân tán cảm giác khó chịu ở cổ tay. Tay trái của hắn ghì chặt dây cương, đầm và chắc, điều khiển con ngựa đi những bước thận trọng qua các gờ đá trơn trượt.

"Đẩy mạnh lên! Đẩy bẩy bánh xe lên khỏi rãnh nước!"

Tiếng quát tháo của Phan Đình Giản dội lại từ phía trước. Cỗ xe bò chở rọ sắt vừa bị sập một bên bánh xuống một hố bùn sâu do trận mưa đêm qua để lại. Trục xe nghiêng hẳn sang một bên, mấy thanh xà beng thép va vào nhau loảng xoảng. Đám phu dịch hò hét, hì hục dùng đòn bẩy gỗ cố bẩy bánh xe lên nhưng vô vọng.

Phan Đình Giản nhảy xuống ngựa, giằng lấy một thanh xà beng thép đặc từ trên xe, sải bước lội thẳng xuống vũng bùn ngập đến bắp chân. Y cắm phập đầu xà beng xuống kẽ đá dưới đáy bùn, tì vai vào thân thép, gầm lên một tiếng: "Lên!"

Tiếng gỗ nghiến kèn kẹt. Dưới sức lực trâu mộng của viên Tư vụ và đám phu dịch, bánh xe nặng trịch nhích dần lên khỏi hố bùn, cỗ xe lảo đảo rồi bò tiếp lên đoạn đường khô.

Trần Húc và Đỗ Bình đi ngựa ngay phía sau chứng kiến cảnh tượng ấy, khẽ đưa mắt nhìn nhau. Một viên quan sẵn sàng nhảy xuống bùn lầy nạy xà beng cùng phu phen tuyệt đối không phải là kẻ chỉ biết ngồi đài gõ mõ. Sự quyết liệt và thực dụng của Phan Đình Giản cho thấy y sẽ bảo vệ phương án thi công của Bộ Công đến cùng.

"Thầy ơi, đường xóc quá, cái tráp gỗ trên lưng con nãy giờ cứ đập vào nhau lốc cốc," thằng Cửu đi bộ bên cạnh ngựa của Vương Quang, hơi thở đã bắt đầu đứt quãng vì phải gùi nặng lên dốc.

"Đưa tráp cho ta," Vương Quang nói. Hắn dùng tay trái kéo chiếc quai da, nhấc bổng chiếc tráp gỗ bọc da cá đuối nặng gần chục cân lên, gác ngang qua yên ngựa ngay phía trước bụng mình, dùng cẳng tay trái chặn lại. "Ngươi xách túi chu sa và cuộn dây rọi đi. Chú ý bước chân, đừng đạp lên rêu trơn."

Thằng Cửu thở phào, đưa tay quệt vệt mồ hôi trên trán: "Dạ, con cảm ơn thầy. Đường lên ải càng lúc càng vắng, từ sáng đến giờ chẳng thấy bóng người dân nào qua lại."

Đúng như lời thằng bé nói. Khu vực Chi Lăng vốn dĩ là yết hầu quân sự, nhưng những năm thái bình, dân cư rất thưa thớt. Rải rác hai bên đường thỉnh thoảng mới xuất hiện những nền gạch cũ nát hoặc vài nấm mộ vô danh cỏ mọc um tùm — tàn tích của những binh trạm thời chiến. Sương lam dưới thung lũng quyện đặc, chặn đứng tầm nhìn xa.

Đến chập tối ngày thứ năm kể từ lúc rời Đông Bộ Đầu, cả đoàn cuối cùng cũng nhìn thấy ánh đuốc leo lét của trạm Đồng Đăng.

Đây là một đồn dịch quy mô nhỏ được xây bằng đá hộc và gạch nung già, nằm kẹp giữa hai vách núi sừng sững, đóng vai trò trạm nghỉ cuối cùng trước khi tiến vào họng vực Đá Đen dưới chân ải Quỷ Môn. Lớp tường ngoài của trạm bám đầy rêu xanh đen, mái ngói vẩy cá xô lệch mọc đầy cỏ dại.

Vừa nghe tiếng xe bò nghiến bánh ngoài cổng, viên Trạm trưởng già cỗi đã vội vàng xách chiếc đèn lồng dầu trẩu chạy ra đón. Lão mặc bộ đồ lính thú vá víu, khuôn mặt nhăn nheo hằn sâu sự mệt mỏi và cô độc của những kẻ đóng quân nơi sơn cước.

Việc sắp xếp chỗ nghỉ và ngựa xe diễn ra nhanh chóng. Phan Đình Giản không có ý định nấn ná lâu. Vừa dùng xong bữa cơm chiều với măng khô và thịt lợn muối, y liền cho gọi viên Trạm trưởng ra giữa sảnh:

"Bản quan là Tư vụ Bộ Công. Ngày mai, đúng giờ Mão, đoàn sẽ kéo thiết bị vào họng vực Đá Đen để cắm mốc và làm đường. Ngươi phải huy động toàn bộ số lính trạm hiện có, chuẩn bị đủ đuốc mồi tẩm nhựa thông, dây thừng và cuốc chim để dọn đường cho xe bò. Chậm một khắc, ta sẽ trị tội theo quân luật!"

Viên Trạm trưởng già run lẩy bẩy, dập đầu lia lịa: "Dạ... bẩm đại nhân, tiểu nhân rõ. Đuốc và dây thừng trạm luôn có sẵn. Nhưng... nhưng đường vào họng vực dốc đứng, sương mùa này đóng dày đặc, ngựa xe e là rất khó đi nhanh được ạ."

"Đó là việc của đám phu dịch, ngươi chỉ việc dẫn đường!" Phan Đình Giản gạt đi, đoạn phẩy tay áo quay người bước thẳng về dãy phòng nghỉ phía tây, bỏ mặc viên Trạm trưởng đang lau mồ hôi hột.

Đám phu dịch cũng lục tục kéo nhau ra các lán ngoài sân nhen lửa sưởi ấm. Trong gian nhà chính lúc này chỉ còn lại ba người của Khâm Thiên Giám, thằng Cửu và viên Trạm trưởng già đang lúi húi dọn dẹp bát đĩa trên bàn.

Ngọn đèn dầu lạc leo lét trên cây cột giữa nhà tỏa ra một vùng ánh sáng vàng vọt, soi rõ những bóng người đổ dài trên bức tường vôi lở lói. Bên ngoài, sương mù đã tràn qua ngưỡng cửa sổ để ngỏ, mang theo cái lạnh thấu xương.

Vương Quang bước tới chiếc bàn gỗ, dùng tay trái đặt nhẹ chiếc tráp da cá đuối xuống. Hắn không ngồi, đứng thẳng người, ngón tay khẽ gõ một nhịp nhàn nhạt lên mặt gỗ.

"Trạm trưởng," giọng Vương Quang trầm ổn, vang lên rõ ràng trong không gian tĩnh mịch: "Phiền ông cho mượn sổ ghi chép thủy văn của trạm vào tháng Bảy năm ngoái để đối chiếu thủ tục hành chính."

Lão Trạm trưởng giật thót mình, chiếc đũa tre trên tay rơi cạch xuống mâm đồng. Lão quay lại, ánh mắt đục ngầu lướt qua bộ quan phục thêu họa tiết sao trời của nhóm Khâm Thiên Giám. Sắc mặt lão bỗng chốc nhợt nhạt đi trông thấy, như thể vừa nghe ai nhắc đến một điều cấm kỵ.

Lão nuốt khan, hai tay chà xát vào vạt áo: "Bẩm... bẩm các thầy đo đất. Sổ sách của trạm thì vẫn lưu trong hòm. Nhưng... năm ngoái, người của Bộ Công trên triều cũng đã xuống tận nơi xem xét và chép lại hết rồi. Mọi chuyện chẳng phải đã rõ ràng rồi sao?"

"Bộ Công báo cáo phần của Bộ Công. Khâm Thiên Giám cần đối chiếu số liệu gốc để nghiệm thu mốc chuẩn trước khi thi công đường mới," Trần Húc bước lên một bước, giọng điệu mang sự uy nghiêm của một viên chức chính ngạch: "Đó là phép tắc công vụ. Ông mau mang sổ ra đây."

Lão Trạm trưởng không dám cãi thêm, lật đật chạy vào buồng trong. Một lát sau, lão ôm ra một cuốn sổ dày bọc giấy dầu đã ngả màu sẫm, rìa giấy tưa ra vì ẩm mốc. Lão đặt cuốn sổ lên bàn, lật giở những trang giấy bản úa vàng bằng đôi tay run rẩy, cho đến khi dừng lại ở một trang được đánh dấu bằng chỉ đỏ.

"Đây thưa các thầy... Mực nước ngày hai mươi mốt tháng Bảy năm ngoái," lão chỉ ngón tay đầy gân xanh vào mặt giấy.

Vương Quang cúi sát xuống, mắt phải lướt nhanh qua các hàng chữ chân thư ngay ngắn. Đỗ Bình và Trần Húc cũng ghé đầu vào xem.

Trang sổ ghi chép rành rọt từng canh giờ.

Giờ Dậu: Nước suối đứng ở vạch bảy thước. Trời không mưa.

Giờ Tuất: Nước suối đứng ở vạch bảy thước một tấc. Trời quang, có gió bấc.

Giờ Hợi: Nước suối hạ xuống sáu thước tám tấc.

Giờ Tý: Nước suối hạ xuống sáu thước năm tấc. Cạn dưới vạch chuẩn.

Vương Quang thẳng người lên. Các con số này hoàn toàn khớp với bản sao kê mà Bắc Doanh đã nhận được. Suốt đêm hôm đó, dòng suối mặt chảy qua trạm Đồng Đăng — con suối bắt nguồn từ phía họng vực Đá Đen — không hề có dấu hiệu của lũ, thậm chí nước còn rút cạn dần.

"Đêm hai mươi mốt tháng Bảy," Vương Quang nhìn thẳng vào viên Trạm trưởng: "Ông xác nhận đêm đó trời tạnh ráo, không có cơn lũ mặt nào đi qua đây?"

"Vâng... vâng, tiểu nhân xin lấy cái đầu ra bảo đảm!" Lão Trạm trưởng dập đầu lia lịa: "Trời khô như ngói, suối trong vắt nhìn thấy cả sỏi đáy. Tuyệt đối không có lũ quét đổ về ngã ba này!"

Trần Húc cau mày, lấy từ trong ngực áo ra bản sao báo cáo của Bộ Công, dằn giọng: "Nếu không có lũ, tại sao báo cáo sự cố của Tư vụ Phan lại ghi rõ đêm ấy nước dâng cao đột ngột cuốn sập mảng bờ đá nơi lán trại của Khâm Thiên Giám đóng quân?"

Lời vừa dứt, một tiếng thở dài sườn sượt chợt vang lên từ phía góc cột tối om.

Một gã lính thú đang đứng châm dầu vào chiếc đĩa đèn quay lại. Gã mặc chiếc áo tơi rách bươm, gầy gò đen nhẻm, đôi mắt sâu hoắm nhìn ba viên trắc thủ bằng sự ngần ngại pha lẫn sợ hãi.

"Các thầy từ Kinh thành lên đây... là để tìm lại tung tích của bốn đồng liêu bị mất tích năm ngoái phải không?" gã lính thú cất giọng khàn khàn.

Đỗ Bình nhíu mày: "Ngươi biết chuyện gì?"

Gã lính liếc nhìn ra ngoài khoảng sân đang chìm nghỉm trong sương đặc, tiến lại gần bàn thêm một bước, hạ giọng xuống mức thì thào:

"Đêm hai mươi mốt tháng Bảy đó... tiểu nhân và thằng Toán gác ở điếm canh cách họng vực Đá Đen chưa đầy hai dặm. Đúng là trời không có mưa, sương cũng quang. Suốt cả đêm tĩnh lặng như tờ."

Gã nuốt nước bọt, ánh mắt dại đi như đang nhớ lại một ký ức kinh hoàng:

"Nhưng đến tận canh tư... chúng tôi bỗng nghe thấy một tiếng sụt lở cực lớn vọng ra từ phía vách núi. Âm thanh ấy không giống tiếng đá lăn thông thường. Nó như thể có một cái khoang rỗng khổng lồ dưới lòng đất vừa bị sụp xuống, đất đá va đập ầm ầm rung cả nền đất dưới chân điếm canh. Sau tiếng động đó... là tĩnh lặng hoàn toàn. Không có tiếng nước chảy cuồn cuộn của lũ, không có tiếng người la hét cứu mạng. Chỉ một tiếng sụt vỡ, rồi thôi."

Trần Húc và Đỗ Bình sững người. Âm thanh của một vụ sụt lở đất đá quy mô lớn mà không có nước lũ dâng lên? Điều đó có nghĩa là mảng vách đá dựng lán trại đã sụp thẳng xuống một hố tử thần khô cạn, hoặc một họng nước ngầm hút tuột mọi thứ xuống đáy.

"Nhưng đó chưa phải là chuyện khiến anh em ở trạm sợ hãi nhất đâu thưa các thầy," gã lính thú run rẩy, đưa bàn tay đầy vết chai lên xoa xoa khuôn mặt nhăn nheo của mình.

Vương Quang khẽ chuyển trọng tâm cơ thể. Hắn không đưa ra bất kỳ phản ứng cảm xúc nào, chỉ yên lặng chờ đợi gã lính nói tiếp. Dưới gầm bàn, tay trái của hắn đã chạm vào cán bút lông.

"Khoảng hai tháng sau khi đám thợ Bộ Công thu dọn hiện trường rút về xuôi," gã lính nuốt khan, "cứ vào những đêm sương mù đóng đặc, tầm canh ba... ngoài cổng gỗ lim của trạm lại thỉnh thoảng vang lên tiếng gõ cửa."

Đỗ Bình rụt hẳn người lại: "Gõ cửa? Ngươi bảo ai gõ cửa giữa đêm sương?"

"Vâng... tiếng gõ cửa," gã lính thú gật đầu, môi run lập cập. "Năm ngoái, trước khi xảy ra tai nạn, thầy Ký lục Hồ Lương thường dẫn thợ ra bãi đo đạc về rất khuya. Mỗi lần về, thầy ấy có một nhịp gõ cửa rất đều, rất chậm để gọi chúng tôi ra mở cổng khóa trong. Nhịp điệu tiếng gõ mấy tháng nay... hệt như thói quen của thầy ấy."

Viên Trạm trưởng già đứng bên cạnh cũng khẽ rùng mình, chắp hai tay vào nhau lầm rầm khấn vái.

"Chúng tôi không ai dám mở cổng," gã lính nói tiếp. "Tiếng gõ cứ đều đặn vang lên một lúc rồi dứt. Sáng sớm hôm sau ra xem... trên bề mặt ván gỗ cổng trạm toàn bám thứ bùn loãng ướt sũng, xám xịt và lạnh toát, tanh nồng mùi rêu đá dưới đáy nước sâu. Chúng tôi phải dội ba gáo nước giếng mới rửa sạch được."

Gian nhà chính rơi vào sự im lặng nghẹt thở. Ngọn đèn dầu lạc chao đảo trong một cơn gió bấc lùa qua khe cửa, hắt cái bóng của ba người Khâm Thiên Giám dài ngoằn ngoèo lên vách đất.

Báo cáo lũ quét của Bộ Công và sổ đo thủy văn của trạm Đồng Đăng đang mâu thuẫn trực tiếp với nhau bằng những con số vô hồn. Còn lời kể của lính gác trạm về tiếng sụt lở lúc canh tư và tiếng gõ cửa bí ẩn mang lại một chiều hướng u ám hơn rất nhiều. Bốn người của đoàn Khâm Thiên Giám vẫn bặt vô âm tín, và họng vực Đá Đen dường như không chỉ là một cái bẫy địa chất lỏng lẻo. Nó đang cất giấu những điều vượt ra ngoài một bản báo cáo tai nạn sạt lở thông thường.

Vương Quang vẫn đứng im. Cổ tay phải của hắn hơi đơ cứng do khí hậu ẩm lạnh, nhưng hắn không để tâm đến nó. Hắn không vội vàng kết luận Bộ Công đã lấp liếm hồ sơ, cũng không khẳng định tiếng gõ cửa kia là do vong hồn của người đã khuất hay do một nguyên nhân nào khác. Là một Ký lục, hắn biết rõ giá trị của chứng cứ.

Hắn dùng tay trái kẹp lấy chiếc quản bút lông thỏ, chấm vào nghiên mực đã pha sẵn.

Hắn mở cuốn sổ tay cá nhân, ghi nhanh dòng chữ bằng những nét cẩn trọng:

"Trạm Đồng Đăng: Đêm 21/7, lính trạm xác nhận nghe tiếng lở đá lúc canh tư, không có lũ mặt đi qua. Ghi nhận lời đồn có tiếng gõ cửa ban đêm sau vụ tai nạn."

Đó là một điểm mâu thuẫn cần phải được kiểm chứng bằng thước đo và quả rọi tại hiện trường.

"Cửu," Vương Quang gập sổ lại, tiếng bộp nhỏ phá tan bầu không khí đặc quánh trong phòng. Hắn cất giọng phẳng lặng, rành rọt: "Kiểm tra lại toàn bộ túi đựng dây rọi tơ. Lấy sáp ong bôi trơn các vòng khuyên bằng đồng, tránh để sương núi làm rỉ sét. Dùng giẻ mềm lau thật sạch mặt kính của ba chiếc la bàn thủy."

Hắn quay sang nhìn Trần Húc và Đỗ Bình:

"Sáng mai ra đến mép vực Đá Đen, nếu nền đá không có mốc chuẩn cũ hoặc có dấu hiệu sụt lún, tuyệt đối không ai được bước vào phạm vi cách bờ vực hai trượng. Trần huynh, Đỗ huynh, phần dựng bàn đạc, neo dây và quan sát vạch ngắm xin nhờ cậy hai huynh. Đệ sẽ đứng lùi lại phía sau, cách xa hiện trường thao tác để đối chiếu góc lệch và ghi sổ độc lập."

"Được, cứ đúng quy tắc an toàn thực địa mà làm," Trần Húc gật đầu mạnh một cái, lấy lại vẻ bình tĩnh của một trắc thủ dày dạn kinh nghiệm.

Vương Quang đưa mắt nhìn ra khoảng sân trạm đã bị màn sương mù xám đục nuốt chửng hoàn toàn.

Ngày mai, họ sẽ mang thước thép và dây rọi đi thẳng vào cái họng vực đã nuốt chửng đồng liêu của mình, để tự đo lấy một câu trả lời.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3