Chương 138: Người Của Bộ Công
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
138 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 138/138 chương
Giữa giờ Mùi ngày hôm sau, ba cỗ xe trâu chở thiết bị của Ty Thủy Công thuộc Bộ Công nghiến bánh qua cổng Bắc Doanh, cày nát lớp bùn nhão trên sân đất nện.
Mưa phùn vẫn rắc hạt lạnh buốt. Trên thùng xe chất đầy những rọ sắt đan mắt cáo, mười hai thanh xà beng thép đặc và hai bộ giàn tời gỗ lim đen sẫm còn bám vệt rêu khô. Dẫn đầu đội công trình là Tư vụ Phan Đình Giản — một người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi, thân hình vạm vỡ, da sạm gió sương, mặc quan phục lục phẩm vén gọn trong đôi ủng da trâu đóng đinh sắt.
Phan Đình Giản không vào sảnh đường uống trà theo lệ thường. Ông ta đứng ngay dưới mái hiên kho vật tư, ra lệnh cho phu dịch hạ chiếc hòm sắt đựng đồ bản xuống bàn nghiệm thu, rồi quay sang nhìn ba người của Bắc Doanh vừa bước ra là Trần Húc, Đỗ Bình và Vương Quang.
"Chủ sự Lương đã báo danh sách cho bản quan rồi," Phan Đình Giản cất giọng trầm rền, ánh mắt quét nhanh qua cánh tay phải buộc dải da thuộc của Vương Quang: "Đường từ đây lên trạm Đồng Đăng mất sáu ngày ngựa trạm, vào đến họng vực Đá Đen chân ải Quỷ Môn mất thêm một ngày luồn rừng. Trừ thời gian đi đường, công trường của Bộ Công trên đó chỉ có đúng mười lăm ngày thi công trước khi mưa nguồn tiết Kinh Trập đổ về."
Trần Húc bước lên nửa bước, chắp tay nói: "Bẩm Phan đại nhân, theo quy chế phối hợp, Khâm Thiên Giám phải thả rọi đo lại độ sâu lòng vực, đối chiếu với mốc chuẩn lập từ sáu năm trước và kiểm tra xong hiện trường vụ sạt lở năm ngoái rồi mới bàn giao mặt bằng được."
"Mốc chuẩn sáu năm trước sụp xuống vực cùng cái lán trại của Hồ Lương từ tháng Bảy năm ngoái rồi, còn đâu nữa mà đối chiếu!" Phan Đình Giản phất tay, mở nắp chiếc hòm sắt, rút ra một cuộn bản vẽ giấy dày trải thẳng lên mặt bàn gỗ.
Trên bản vẽ, họng vực Đá Đen được phác họa bằng những đường nét vuông vức: hai vách đá vôi kẹp lấy một khe nước hẹp, tại vị trí gờ đá phía tây đánh dấu một vòng tròn đỏ ghi bốn chữ Điểm Sụt Lở Cũ. Ngay bên trên vòng tròn đỏ chừng ba trượng, người của Bộ Công đã vẽ sẵn một đường kẻ mực xanh cắt ngang vách núi, ghi chú rõ khối lượng củi thông cần dùng để nung giòn thớ đá và vị trí đục vách đánh sập đá xuống lấp họng nước.
"Đây là phương án thi công đã trình Thượng thư Bộ Công," Phan Đình Giản chỉ ngón tay cái thô ráp vào đường mực xanh: "Nước ngầm từ trong hang đá vôi tống ra không theo quy luật nào cả. Cách duy nhất để mở đường kéo gỗ lim qua đoạn này là nung đá đục sập ba mươi phương đá trên vách tây xuống, chèn bớt cái họng vực ấy lại để làm nền đường. Các người lên đó chỉ cần cắm cho bản quan bốn chiếc cọc mốc mới ở gờ đá phía trên đường mực xanh, ký vào biên bản xác nhận nền đá phía trên đủ vững để đặt giàn tời là xong việc."
Đỗ Bình nhìn bản vẽ, sắc mặt hơi biến đổi: "Nhưng thưa đại nhân... ngay bên dưới vách đá định đục sập đó là nơi lán trại của Ký lục Hồ Lương và ba trắc thủ Bắc Doanh mất tích năm ngoái. Nếu chưa thả rọi khảo sát lòng vực mà đã đổ đá lấp xuống, việc xác minh tung tích bốn người cùng bàn đạc và sổ gốc sẽ mất hết dấu vết."
"Đá tảng rơi xuống cái họng nước xoáy ấy một mùa lũ còn bị nghiến vỡ, huống hồ là đồ gỗ với mấy quyển sổ giấy!"
Giọng Phan Đình Giản đanh lại, mang đúng sự thực dụng lạnh lùng của một viên chức công trình đã quen xử lý tai nạn lao dịch: "Tháng Bảy năm ngoái chính mắt bản quan đứng ở gờ đá phía trên nhìn xuống. Mảng bờ đá ấy bị nước ngầm khoét rỗng chân, sụp xuống trong chớp mắt. Ta đã cho hai mươi đinh phu dọc theo suối hạ lưu tìm kiếm suốt năm ngày trời không thấy tăm hơi, biên bản tai nạn cũng đã có chữ ký xác nhận của Trạm trưởng dịch trạm Đồng Đăng. Giờ vách đá đang chênh vênh, các người còn muốn bắc giàn ra sát mép vực mò cái gì? Muốn sụt thêm một mảng nữa cho mất thêm mấy mạng người à?"
Trần Húc và Đỗ Bình im lặng, đưa mắt nhìn nhau. Lời của Phan Đình Giản có lý do an toàn thực tế của người quản lý công trường; chính Chủ sự Lương Phương cũng đã nghiêm cấm họ tự ý xuống lòng vực. Nhưng nếu chỉ cắm bốn cái cọc ở tít trên cao rồi ký biên bản ngay, họ sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ kiểm chứng hiện trường mà Bắc Doanh giao phó.
Giữa sự im lặng dưới mái hiên, Vương Quang nãy giờ đứng yên bên cạnh bàn nghiệm thu mới chậm rãi mở lời:
"Bẩm Phan đại nhân, việc không tự ý xuống lòng vực, Chủ sự Bắc Doanh cũng đã dặn rõ như lời đại nhân vừa nói."
Phan Đình Giản hơi nhướng mày, nhìn người Ký lục trẻ tuổi đang dùng tay trái giữ mép bản vẽ: "Ngươi là Vương Quang, người giữ sổ biên bản chuyến này đấy à? Biết rõ giới hạn thế thì tốt."
"Khâm Thiên Giám không có quyền cản phương án mở đường của Bộ Công," Vương Quang nói bằng giọng phẳng lặng, tay trái rút từ trong tráp gỗ ra tờ sao lục công văn của Bộ Công cùng bảng kê thủy văn của trạm dịch địa phương đặt lên mặt bàn: "Tuy nhiên, muốn đặt bút ký xác nhận gờ đá phía trên đường mực xanh đủ an toàn để dựng giàn tời và đục vách, hồ sơ lưu của thuộc hạ phải giải trình được số liệu của vụ sụt lở năm ngoái. Báo cáo của Quý bộ ghi đêm mười bốn tháng Bảy có lũ quét dâng cao hai trượng làm sập chân đá; nhưng sổ đo cọc tiêu của trạm dịch cách đó hai dặm lại ghi nhận suốt đêm hôm ấy mực nước suối rút cạn dưới vạch chuẩn ba tấc, hoàn toàn không có lũ mặt đi qua."
Vương Quang ngước nhìn Phan Đình Giản:
"Hai văn bản có đóng dấu công vụ đang lệch nhau hai trượng ba tấc nước. Nếu chưa đo đạc lại hiện trường để ghi rõ nguyên nhân chênh lệch này vào biên bản, thuộc hạ không có cơ sở hợp thức để ký xác nhận nền đá phía trên an toàn."
Không khí dưới mái hiên kho vật tư trầm hẳn xuống.
Phan Đình Giản nhìn chằm chằm vào tờ bảng kê của trạm dịch. Ông ta không hề bối rối hay nổi giận, chỉ khẽ thở hắt ra một hơi nặng nề của người làm thực địa phải giải thích cho kẻ chỉ đọc giấy tờ:
"Ngươi đọc hồ sơ kỹ đấy, nhưng ngươi chưa từng đặt chân đến vùng núi đá vôi Chi Lăng — Quỷ Môn nên mới lấy số đo của một cái trạm dịch cách hai dặm ra để hỏi."
Phan Đình Giản chống tay lên mép bàn, chỉ vào khoảng trống giữa hai vách núi trên bản vẽ:
"Sông ngòi dưới đồng bằng chảy lộ thiên trên mặt đất, thượng nguồn dâng thì hạ lưu mới ngập. Còn ở dãy núi đá vôi kia, trong bụng núi có hàng chục cái hang ngầm và những khoang chứa nước ngầm thông nhau. Nước mưa tích lại trong các khoang đá kín suốt nhiều ngày; đến khi vách đất sét ngăn hang bị bục, nước từ trong ruột núi bất ngờ tống thẳng ra họng vực Đá Đen làm sập bờ đá, rồi lại thoát ngay xuống các khe nứt dưới đáy vực. Trạm dịch nằm ở nhánh suối lộ thiên bên ngoài làm sao đo được luồng nước vỡ ra từ trong bụng núi?"
Trần Húc nghe vậy thì khẽ gật đầu. Ở vùng núi đá vôi phía bắc, hiện tượng nước ngầm tích tụ trong hang kín rồi đột ngột xả ra khe vực không phải chuyện hiếm gặp.
Cổ tay phải của Vương Quang bắt đầu nhức buốt vì đứng lâu dưới hơi mưa lạnh. Hắn khẽ thu bàn tay phải vào sâu trong ống tay áo chàm để tránh gió, dùng tay trái giữ chặt mép giấy bản, đáp lại một cách điềm tĩnh:
"Lời đại nhân giải thích về khoang nước ngầm trong núi đá vôi rất hợp lý. Nhưng chính vì luồng nước đó phát xuất từ hang ngầm trong bụng núi mà trạm dịch bên ngoài không đo được, hồ sơ hiện tại của cả hai nha môn lại càng chưa xác định được vị trí miệng xả ngầm nằm ở đâu dưới họng vực. Nếu chưa thả rọi và đo đạc lại hiện trạng vách đá sau vụ sụt lở mà đã ký xác nhận cho đục sập ba mươi phương đá xuống, trong trường hợp đá rơi làm nghẽn miệng thoát hoặc chấn động làm sụt tiếp gờ đá bên trên, cả người ký biên bản của Khâm Thiên Giám lẫn người chỉ huy công trường của Bộ Công đều không gánh nổi trách nhiệm trước triều đình."
Phan Đình Giản nheo mắt nhìn Vương Quang.
Ông ta nhận ra người Ký lục trước mặt không hề có ý định bới móc chuyện cũ để kết tội mình, nhưng lại bám rất chặt vào nguyên tắc an toàn hồ sơ. Lời giải thích về khoang nước ngầm của ông ta vốn để bác bỏ số liệu trạm dịch, nay lại trở thành lý do xác đáng để phía Khâm Thiên Giám yêu cầu phải khảo sát kỹ trước khi ký.
Nếu ép họ ký ngay lúc này thì trái quy chế phối hợp; nhưng nếu để đám trắc thủ kéo dài việc đo đạc hàng chục ngày trời, tiến độ mười lăm ngày của công trường sẽ vỡ trận.
Phan Đình Giản cân nhắc vài nhịp thở, rồi đập nhẹ bàn tay lên cuộn bản vẽ, ra quyết định dứt khoát:
"Được. Đã là quy chế an toàn mặt bằng, bản quan không ép các ngươi ký mù. Khi lên đến họng vực Đá Đen, ta sẽ cho phu dịch dựng giàn tời cố định trên gờ đá để các ngươi thả dây rọi và đo đạc lại khu vực sụt lở năm ngoái."
Ông ta nhìn thẳng vào Trần Húc và Vương Quang, giọng đanh gọn:
"Nhưng việc công có kỳ hạn. Bản quan dành cho nhóm trắc địa của các ngươi đúng ba ngày đầu tiên tại hiện trường để đo đạc và lập biên bản. Ngay chiều nay, hai bên sẽ ký vào tờ cam kết tiến độ: trong vòng ba ngày đó, các ngươi phải hoàn tất phần khảo sát trong phạm vi an toàn và ghi rõ kết quả vào biên bản bàn giao để Bộ Công có căn cứ điều chỉnh hoặc tiến hành thi công. Quá hạn ba ngày mà không đưa ra được số liệu cụ thể, bản quan sẽ chiếu theo biên bản cam kết hôm nay, báo thẳng về Bộ Công rằng Bắc Doanh làm chậm công lệnh! Có dám ký cam kết không?"
Vương Quang nhìn sang Trần Húc. Thấy vị trắc thủ chính ngạch gật đầu đồng thuận, Vương Quang mới chắp tay đáp:
"Bẩm đại nhân, trong ba ngày tại hiện trường, chúng tôi sẽ hoàn tất toàn bộ phần đo đạc có thể thực hiện trong giới hạn an toàn, xác định được đến đâu sẽ lập biên bản rõ ràng đến đó và ghi nhận đầy đủ các điểm cần lưu ý cho công trường."
"Rốt ráo!" Phan Đình Giản rút bút lông ký xác nhận thời hạn ba ngày vào góc tờ công văn phối hợp, rồi đẩy sang cho Trần Húc và Vương Quang cùng ký tên.
Đóng nắp hòm sắt lại, viên Tư vụ Bộ Công quay người bước ra cổng doanh sở: "Giờ Mão sáng mai hội quân ở bến đò Đông Bộ Đầu, quá một khắc bản quan không đợi!"
Đợi bóng ba cỗ xe trâu của Bộ Công khuất hẳn sau cổng đất nện, Trần Húc mới thở ra một hơi, quay sang nhìn Vương Quang và Đỗ Bình:
"Thời hạn ba ngày ở một địa hình hiểm trở như họng vực Đá Đen là rất gấp. Nhưng ít nhất chúng ta cũng có được giàn tời của Bộ Công hỗ trợ và có danh chính ngôn thuận để đo lại khu vực lán trại cũ của Hồ Lương."
Vương Quang dùng tay trái thu dọn lại các tờ bản sao cho vào tráp gỗ. Cơn buốt ở cổ tay phải khiến ngón tay hắn hơi cứng lại, phải dừng một nhịp để thả lỏng khớp xương rồi mới nói tiếp:
"Phan đại nhân là người thông thuộc địa hình vùng đó. Việc năm ngoái lán trại của đoàn Khâm Thiên Giám được dựng ở vị trí bị sụt lở có thể do họ buộc phải bám theo tọa độ mốc cũ từ sáu năm trước, hoặc do biến động ngầm chưa lường trước được. Muốn biết rõ, chúng ta phải chuẩn bị kỹ dụng cụ trước khi lên đường."
Đỗ Bình gật đầu, đưa ra ý kiến từ kinh nghiệm đi vùng núi phía bắc của mình:
"Trong mảnh giấy của Hồ Lương có nhắc đến việc dây rọi bị kéo căng ở độ sâu một trượng hai thước. Nếu dưới họng vực có dòng xoáy ngầm hoặc đá tai mèo sắc nhọn, dây gai thường rất dễ bị cứa đứt. Để ta sang kho chọn loại dây gai bện ba tao ngâm nhựa thông già, thử tải bằng quả cân năm mươi cân trước ở sân doanh, rồi cứ cách mỗi thước lại khâu một vòng chỉ đỏ vào thân dây để đứng từ xa cũng đọc được độ sâu."
"Cách thử tải và đánh dấu dây của Đỗ huynh rất chắc chắn," Trần Húc tán thành, rồi bổ sung thêm phần việc của mình: "Cònเรื่อง sương mù và quặng sắt làm lệch kim nam châm ở ải Quỷ Môn thì ta đã từng gặp ở vùng mỏ Thái Nguyên. Một chiếc la bàn không thể tin tuyệt đối được. Ta sẽ lĩnh thêm ba chiếc la bàn định hướng cùng loại để đặt ở ba cự ly khác nhau quanh miệng vực; nếu kim bị lệch, chúng ta sẽ lấy góc chênh lệch giữa ba vị trí so với cọc tiêu cố định để tính ra sai số từ trường."
Vương Quang lắng nghe hai vị trắc thủ chính ngạch bàn bạc phương án kỹ thuật, khẽ gật đầu:
"Vậy phần dụng cụ đo và dây rọi nhờ cả vào Trần huynh và Đỗ huynh. Thuộc hạ sẽ chuẩn bị sẵn các biểu mẫu đối chiếu góc lệch trong sổ gốc để lên đến nơi chỉ việc điền số đo, tiết kiệm thời gian ba ngày ngoài bãi."
Hai người Trần Húc và Đỗ Bình lập tức rảo bước về phía kho vật tư để chọn dây và kiểm tra la bàn.
Dưới mái hiên chỉ còn lại Vương Quang và thằng Cửu.
Cơn gió lạnh cuối chiều thổi tạt qua hiên nhà, mang theo hơi nước mưa phùn ẩm ướt. Vương Quang ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh bàn nghiệm thu, đưa bàn tay trái bóp nhẹ lên bắp tay phải đang mỏi nhừ để giữ cho máu huyết lưu thông.
Thằng Cửu đang buộc lại dây da chiếc tráp gỗ, ngước mắt lên nhìn thầy, hỏi nhỏ:
"Thầy ơi... nãy ông quan Bộ Công kia bảo đá tảng rơi xuống cái vực ấy cũng bị nghiến vỡ. Liệu bốn người của đoàn thầy Hồ Lương năm ngoái... lên đấy mình có còn tìm thấy dấu vết gì không hả thầy?"
Vương Quang nhìn ra khoảng sân đất nện xám xịt đang chìm dần vào bóng tối của buổi chiều xuân, giọng trầm tĩnh:
"Còn hay không phải đợi thả dây rọi và đo lại vách đá mới biết được. Việc của chúng ta là ghi nhận đúng những gì còn lưu lại ở hiện trường, không đoán trước khi chưa nhìn thấy mốc."
Hắn đứng dậy, dùng tay trái xách chiếc túi đựng hồ sơ lên:
"Khiêng tráp gỗ về phòng nghỉ sớm đi, Cửu. Sáng mai lên đường sớm."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.