Chương 116: Vật Chứng Lệch Trục
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
117 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 117/117 chương
Mưa dầm bến Hát dội xuống mặt nước từng đợt ràn rạt. Gió thốc từ hạ lưu mang theo hơi lạnh buốt của đất bãi ngập nước, tạt thẳng vào khoảng trống dưới vòm cống Luy Lâu, quất vào mặt đám người đang đứng chôn chân trong bùn.
Vương Quang ngồi xổm trên gờ đá ướt, mũi chân trần bấm sâu vào lớp rêu trơn bám trên mặt phiến đá dốc.
Đáy mắt trái của hắn cay xè, nhức buốt từng cơn. Bụi vôi vỏ sò mục từ vòm cống bốc lên, gặp hơi ẩm đáy bùn kết thành một lớp màng nhầy bám nơi khóe mi, khiến khoảng tối trong đường hầm thi thoảng lại nhòe đi một mảng xám đục. Hắn không đưa tay lên dụi. Đôi bàn tay lấm lem cát mịn phù sa lúc này chỉ tổ làm xước thêm tròng mắt; hắn nghiêng mặt áp sát vào mép áo tơi bằng lá cọ khô, chớp liền ba nhịp dài để nước mắt tự nhiên ứa ra, cuốn trôi bớt thứ cặn cay rát.
Ngón trỏ bàn tay phải của hắn khẽ giật giật.
Cơn lạnh buốt từ đá ngầm ngấm qua thớ thịt khiến cổ tay có dấu hiệu run rẩy ngoài ý muốn. Vương Quang khép hờ bờ mi lại. Hắn hít vào một hơi thật chậm qua kẽ mũi, nén hơi lại một nhịp vừa đủ để ghìm lồng ngực, rồi từ từ thở dài ra kẽ môi. Hắn không vận khí, cũng không làm phép; hắn chỉ dùng nhịp thở chậm rãi để dằn xuống cơn run của bắp thịt và giữ cho nhịp tim không loạn trước tiếng nước đang gầm gào ngoài bến.
Bàn tay cầm thanh Thiết Xích Khảo Sát vững vàng trở lại.
Trước mũi chân hắn, chiếc đinh nêm khổng lồ đã lộ ra khỏi lớp cát phù sa vừa bị dòng nước cuốn trôi.
Nó dài hơn ba thước, đúc bằng thứ sắt già có ánh đỏ sẫm của đồng, bản rộng bằng nửa bàn tay người lớn, cắm sâu vào một kẽ nứt tự nhiên của vỉa đá xám xanh. Thân đinh đúc nổi những đường gờ răng cưa chằng chịt chạy chéo như xương cá, đầu đinh bè ra hình nấm, bên trên in hằn một con dấu chì xỉn màu mang hình hoa dâu của Ty Tuần Kiểm bến Hát.
Huyện thừa Lê đứng trên gờ đá cao, ngón tay run run chỉ xuống:
"Vương tiên sinh! Dấu triện của Ty Tuần Kiểm rành rành ra đó! Chuyến thuyền năm Bảo Thái thứ mười tám đắm ở khúc sông này, mười hai hòm đinh Bùi Khê mất tích. Nay chiếc đinh này nằm dưới chân cỗ gỗ dâu, lại mang đúng dấu của Tuần ty... há chẳng phải tang chứng cho thấy họ Tống đã ngầm giấu công vật, biến đinh công thành thứ cọc tư ám muội?!"
Đằng sau, Tống Tuần Kiểm Sứ lảo đảo lùi lại nửa bước, mặt mày xám ngoét như tro tàn:
"Quan... Huyện thừa chớ vội chụp mũ! Tuần ty bến Hát bao đời nay coi việc thuyền bè bến bãi, trên đinh neo hay cọc kè đóng dấu tuần ty là chuyện thường... Biết đâu... biết đâu là vật cũ của bến trôi dạt vào đây!"
Vương Quang không nhìn hai người họ. Hắn đưa mũi thước sắt bịt đồng gõ nhẹ ba tiếng cách... cách... cách... lên thân chiếc đinh kim loại.
Tiếng va chạm phát ra trầm đục, đặc quánh.
Lý Tử Trình chống đầu gậy tre bịt sắt đứng cách đó nửa bước, bãi bã trầu cay xè nơi khóe miệng khẽ giật. Lão không nhìn cỗ gỗ dâu, chỉ nhìn bàn tay đang cầm thước của Vương Quang, buông một câu cụt lủn:
"...Ngươi nhìn thấy gì?"
Vương Quang rê đầu mũi thước sắt dọc theo thân đinh, giọng ráo hoác:
"Chiếc đinh này không dùng để đóng cỗ gỗ dâu."
Hắn đưa ngón tay chỉ lên cỗ dâu dài ba trượng đang trồi nửa thân ngoài miệng cống:
"Lỗ đinh nêm thứ mười ba trên thân gỗ dâu nằm chếch về phía mạn ngoài, cách vị trí này sáu thước hai tấc. Nếu muốn dùng chiếc đinh này để ghim cỗ dâu vào mộng đá, người ta phải đóng nó xuyên qua thân gỗ. Nhưng chiếc đinh này cắm độc lập vào một khe nứt của vỉa đá tảng, hoàn toàn không chạm vào một thớ gỗ nào của cỗ dâu."
Lý Tử Trình nhổ toẹt một bãi nước trầu xuống dòng nước đỏ ngầu, mắt ti hí nheo lại:
"...Còn gì nữa?"
"Thân đinh đúc răng cá xuôi chiều, cắm nghiêng một góc ba mươi độ đâm thẳng vào tim mạch đá ngầm. Đây là thế nêm chống xé," Vương Quang nói tiếp. "Khe đá này vốn là một đường nứt tự nhiên của nền đá chân thành Luy Lâu. Người đóng chiếc đinh này là để khóa hai mép đá lại với nhau, ngăn không cho con nước xé toạc vỉa đá ngầm."
Hắn dùng đầu mũi thước cẩn thận gạt lớp bùn sét bám quanh gốc con dấu chì trên đầu đinh.
Dưới ánh sáng vàng quạnh của ngọn đèn bão, mặt chì xỉn màu lộ ra một kẽ nứt nhỏ. Dưới mép chì bị nung chảy dập đè lên, lấp ló một góc của nét chạm chìm cổ hơn, nét khắc vuông vức: một góc của chữ "VĨNH" theo lối chữ lệ tiền triều.
"Dấu chồng dấu," Vương Quang khẽ nói. "Con dấu chì của Ty Tuần Kiểm không phải đúc liền vào đinh. Nó được nung chảy rồi đóng đè lên một con dấu cũ đã có từ trước."
Hắn quay sang nhìn Lý Tử Trình:
"Lý thúc, thứ đinh răng cá sắt lẫn đồng này, lò Bùi Khê đúc từ khi nào?"
"Trước vụ cháy lò rèn năm Bảo Thái thứ mười sáu," Lý Tử Trình chống gậy, giọng khàn đục như tiếng cối đá nghiền ngấu. "Sau năm đó, thợ cả Cổ Loa chết cháy, Bùi Khê không còn nấu thứ quặng pha đồng này nữa. Chiếc đinh này ít nhất đã ra lò từ trước năm ấy."
Huyện thừa Lê biến sắc:
"Ra lò trước vụ đắm thuyền của Tống Hữu Triều ít nhất hai năm? Vậy... nó không phải là đinh trong mười hai hòm đinh bị mất tích?"
"Chưa thể khẳng định," Vương Quang đứng thẳng dậy, hai bàn chân bấm chặt xuống lớp sét dẻo để giữ thăng bằng. "Chiếc đinh này được đúc trước năm Bảo Thái mười sáu, mang dấu tiền triều, sau đó bị dấu của Tuần ty đóng đè lên. Nhưng nó được đóng ở đây từ lúc nào, do ai đóng, đóng theo lệnh của nha môn hay là việc làm vụng trộm của dòng họ Tống... trên mặt đá này chưa có đủ chứng cứ để kết luận."
Lời hắn vừa dứt, từ sâu trong lòng đất dưới chân cồn Địa Tử, một tiếng rền nặng nề bỗng dội lên:
ỤC...
Mặt nước phù sa sông Hát dâng thốc lên một nhịp cao hơn gang tay, tràn qua bờ kè đá xanh, nước ngầu bọt ùa vào lòng cống như bầy rắn đỏ lướt qua chân đám người.
Áp lực con nước ép mạnh vào chân cống khiến vòm gạch cuốn Luy Lâu rung chuyển bần bật.
RẮC!
Một mảng vữa vôi vỏ sò rơi uỳnh xuống mặt nước ngay sát bên vai Vương Quang, bắn tung tóe bùn xám cay nồng.
Cỗ gỗ dâu dài ba trượng trồi ngoài miệng cống bị dòng nước ngầm dồn lực, trượt mạnh ra phía ngoài thêm nửa tấc!
Hai thanh dầm dâu cài chéo phía sau phiến đá khắc bốn chữ Hát Giang Địa Tử bắt đầu phát ra những tiếng ken két rợn người. Ngàm khóa mộng của vách đá đang rạn toác ra dưới sức giằng.
Sợi xích đồng thau quấn quanh cổ chân Tống Hữu Triều bên trong đường hầm lại căng bật lên như dây nỏ.
Thân hình mặc áo the tím cứng đờ bị giằng mạnh về phía khối đá, nhưng vạt áo tơ tằm đã bị chiếc trâm thép nguội của Thanh Diệp ghim chặt vào kẽ đá bên trái giữ lại. Lực giằng ngược chiều xé toạc tấm áo the mục nát làm đôi:
XOẸT!
Dưới lớp vải rách bươm lộ ra bờ sườn gầy guộc trắng bệch của người đàn ông.
Và ngay trên da thịt vùng xương sườn của Tống Hữu Triều, không hề có vết rữa nát thông thường.
Ở đó in hằn một vết sẹo lớn màu xám đậm. Vết sẹo có dạng hình chữ nhật, bốn góc vuông vức, một cạnh bên có vết lõm sâu vào thịt; bên trong bề mặt vết sẹo lờ mờ những đường gân da co rúm lại thành hình những nét chữ triện không còn đọc rõ — kích thước và góc cạnh của vết sẹo gần như khớp hoàn toàn với quy thức chiếc thẻ bài gỗ thị "BẢO THÁI THẬP BÁT NIÊN" mà Huyện thừa Lê đang cầm trên tay.
"Vòm cống sắp sập rồi!" Chu Bá Cửu hét lên thất thanh, hai tay bám chặt vào sợi dây néo an toàn: "Cậu Quang, mau lên bờ! Cỗ dâu tuột ngàm là cả đoạn lũy này chìm nghỉm đấy!"
Huyện thừa Lê mặt xám ngắt, toan lùi lại:
"Vương tiên sinh! Rút lui thôi! Nước ngầm xói chân rồi!"
Vương Quang không lùi. Đôi mắt hắn nhìn trừng trừng vào chiếc đinh ba thước đang cắm sâu trong khe nứt và cỗ dâu đang trượt lùi.
Nếu cỗ dâu trôi hẳn ra sông, hai thanh dầm sau lưng phiến đá Địa Tử sẽ gãy mộng, vòm gạch cuốn sụp xuống nghiền nát Tống Hữu Triều, chôn vùi toàn bộ dấu tích dưới hàng ngàn tấn đá và bùn lầy.
Hắn phải sống qua hiện trường này, và muốn sống sót thì không thể để cấu trúc dưới chân sụp đổ lúc này.
"Chu Bá Cửu, quăng thanh xà beng bịt đồng xuống đây!" Vương Quang quát lớn.
Chu Bá Cửu hoảng hốt ném thanh xà beng dài năm thước xuống mép nước.
Vương Quang đón lấy thanh sắt nặng trịch. Hắn hạ thấp hai đầu gối, bấm chặt ngón chân vào nền đá rêu, luồn mũi dẹp của thanh xà beng cắm sâu vào khe hở giữa đầu chiếc đinh nấm ba thước và gờ dưới của cỗ gỗ dâu.
Hắn không cố nạy chiếc đinh lên. Hắn dùng chính thân đinh sắt lẫn đồng đang cắm chết trong vỉa đá ngầm làm điểm tựa đòn bẩy!
"Thở ra..."
Vương Quang dằn một hơi dài, cơ lưng và cẳng tay gồng cứng, dồn toàn bộ trọng lượng thân người tỳ mạnh lên cán xà beng.
KÉT... RẮC!
Mũi xà beng đóng vai trò như một chiếc chêm sắt phụ, kẹp chặt gờ cỗ dâu ép ngược trở lại mộng đá. Dưới lực đòn bẩy tựa vào chiếc đinh ba thước, đà trượt của thân dâu ba trượng khựng lại!
Nhưng đây chỉ là sự ngăn chặn tạm thời. Lòng bàn tay Vương Quang rung lên bần bật, cơn tê dại lan dần lên khớp bả vai. Nước sông Hát vẫn đang dồn áp lực nghìn cân vào chân kè; hắn không phải thần thánh, hắn chỉ là một con người bằng xương bằng thịt đang dùng chút sức tàn để mua từng khắc thời gian.
Cẳng tay hắn bắt đầu co cứng, đùi run lên từng chặp, hơi thở dần đứt quãng.
Trong bóng tối dưới vòm cống, thân hình Tống Hữu Triều vẫn đang bị sợi xích đồng kéo giằng dữ dội. Mỗi nhịp kéo của sợi xích lại truyền chấn động thẳng vào phiến đá Địa Tử, khiến rãnh nước xám cạnh chữ "TỬ" trào ộc ra thứ dịch nhờn tanh nồng.
Vương Quang nhìn thấy vết sẹo hình chiếc thẻ bài trên sườn Tống Hữu Triều, rồi nhìn sang sợi xích đồng đang căng như dây đàn nối cổ chân người chết vào lòng đá.
Trong đầu hắn bỗng bật lên một suy luận:
Người này đã chết mười chín năm. Thân xác ông ta bị khóa xích vào đá, chính sức nặng của thi thể bị dòng nước kéo giật đang làm lung lay khối đá Địa Tử. Nếu tháo được điểm giằng của người chết ra khỏi khối đá, áp lực truyền vào chân vòm sẽ giảm bớt, và có thể đưa thi thể này lên bờ bảo toàn trước khi vòm gạch sụp đổ.
Vết sẹo trên sườn ông ta, vết dấu chì trên chiếc đinh... tất cả đều là dấu hiệu của việc phong tỏa hành chính đời trước.
Một vật chứng đã chết không nên tiếp tục làm gãy đổ một công trình của người sống.
"Thanh Diệp!" Vương Quang nghiến răng, giọng nghẹn lại dưới sức nặng của thanh xà beng đang tỳ vào lồng ngực: "Dùng trâm thép... bẩy chốt nêm sợi xích đồng ở chân khối đá ra! Đưa thân xác ông ta ra ngoài!"
Thanh Diệp nhìn hắn, đôi mày thanh tú khẽ nhíu lại:
"Ngươi chắc chứ?"
"Xích đồng đang giằng vỡ chân đá Địa Tử!" Vương Quang gằn từng tiếng qua kẽ răng: "Tháo xích ra mới cứu được vòm cống!"
Đứng bên gờ đá, Lý Tử Trình vẫn chống gậy tre bịt sắt. Lão già nhìn chằm chằm vào bàn tay đang run rẩy của Vương Quang, rồi nhìn vào sợi xích đồng thau dưới đáy hầm.
Lão không cất tiếng cản. Lão không lắc đầu, cũng không gật đầu. Đôi mắt ti hí của lão đục ngầu, chỉ đứng đó trong làn mưa dầm, im lìm như một gốc cây khô cắm bên bờ lở.
Thanh Diệp không hỏi thêm. Thân hình nàng lướt vào khe hẹp bốn tấc, mũi trâm thép nguội luồn chuẩn xác vào khe hở của mắt xích đồng cắm sâu dưới chân chữ "TỬ". Nàng dùng lực cổ tay xoay mạnh một góc vặn.
TÁCH!
Mắt xích đồng thau bị ngâm nước mười chín năm giòn vụn, gãy đôi dưới mũi trâm thép.
Lực giằng căng bật bỗng chốc chùng xuống. Thân hình mặc áo the tím của Tống Hữu Triều trượt nhẹ ra ngoài mép bùn, thoát khỏi sự giam hãm của phiến đá Địa Tử.
Vương Quang thở hắt ra một hơi, lồng ngực giãn ra, ngỡ rằng áp lực cơ học đã được giải tỏa.
Thế nhưng—
Ngay khoảnh khắc sợi xích đồng đứt lìa khỏi phiến đá xanh, một biến cố hoàn toàn nằm ngoài mọi quy tắc tính toán của hắn xảy ra.
Không có tiếng sấm sét. Không có yêu ma xuất hiện.
Dòng nước phù sa sông Hát đang cuộn xoáy ầm ầm ngoài bãi bồi bỗng nhiên... đứng sững lại.
Mặt nước phẳng lặng như một tấm gương xám xịt trong đúng một cái chớp mắt, rồi từ từ đổi dòng, chảy ngược về phía thượng nguồn một cách kỳ dị.
Thứ dịch nhờn màu xám đục đang trào ra từ rãnh nhỏ cạnh chữ "TỬ" bỗng ngưng bặt. Thay vào đó, một luồng gió lạnh buốt từ sâu trong lòng đất hút ngược vào miệng hố, phát ra tiếng rít rợn người như tiếng một lồng ngực khổng lồ vừa hít một hơi dài sau cơn ngạt thở.
Trên những ngọn cây bàng cổ thụ dọc triều đê Thượng Hộ, hàng trăm con quạ đen và chim bói cá đang trú mưa bỗng đồng loạt vỗ cánh bay vút lên trời, kêu lên những tiếng thảm thiết xé toạc màn mưa rồi điên cuồng dạt về phía đất liền.
Dưới chân Vương Quang, lớp bùn sét dẻo quánh bỗng mất đi toàn bộ độ kết dính.
Nó rã ra thành những hạt cát rời rạc như tro tàn trôi tuột qua kẽ ngón chân hắn. Thanh xà beng cắm trên đầu chiếc đinh nấm mất đi điểm tựa bùn đất, trượt mạnh sang một bên khiến cả thân người Vương Quang ngã chúi xuống vũng nước lạnh ngắt.
RẮC... RẮC... ẦM!
Khối đá mang bốn chữ Hát Giang Địa Tử không hề đứng yên khi trút bỏ gánh nặng.
Khi mất đi sợi xích đồng neo giữ thân xác Tống Hữu Triều, khối đá nguyên khối nặng hàng ngàn cân bỗng nhiên tự xoay đi nửa tấc, đè nghiến lên hai thanh dầm dâu phía sau, làm gãy vụn cấu trúc chống đỡ cũ theo một góc hoàn toàn ngược lại với đà trượt ban đầu!
Mặt đất dưới chân đê bắt đầu rung rinh nhè nhẹ. Từ phía ba làng ven sông Hát, tiếng chiêng trống báo động bỗng nổi lên dồn dập trong màn mưa mờ mịt.
Vương Quang lồm cồm bò dậy từ vũng bùn lầy, hai bàn tay run lên bần bật, chiếc thước sắt rơi cắm ngập trong cát rã.
Hai mắt hắn trừng trừng nhìn vào hiện trường trước mặt.
Không đúng.
Trong đầu hắn vang lên hai chữ khô khốc.
Hắn nhìn sợi xích đồng đã gãy. Hắn nhìn thi thể Tống Hữu Triều nằm trơ trọi trên bùn. Hắn nhìn phiến đá xanh đã xoay lệch nửa tấc và dòng sông đang cuộn chảy ngược chiều.
Mọi tính toán cơ học của hắn đều đúng: lực kéo giảm đi, điểm giằng đã tháo, đòn bẩy đã giữ được gỗ.
Nhưng tại sao khối đá lại xoay sang hướng ngược lại? Tại sao nước sông lại chảy giật lùi? Sợi xích kia nối vào chân người chết rốt cuộc đang giữ cái gì, và việc tháo nó ra đã kích hoạt cái gì?
Vật chứng nằm đầy đủ trước mắt, nhưng quan hệ nhân quả giữa chúng bỗng chốc vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh rời rạc. Hắn hoàn toàn không biết cái nào là nguyên nhân, cái nào là hệ quả, và cái nào chỉ là một mắt xích trong một thứ luật lệ vô hình mà hắn chưa từng nghe tới.
Một khoảng trống rợn ngợp nuốt chửng lấy tâm trí người khảo sát.
Lý Tử Trình chống gậy bước qua vũng bùn, dừng lại ngay cạnh hắn. Lão già cúi nhìn lớp cát rã đang trôi tuột dưới chân Vương Quang, nhổ toẹt một bãi nước trầu đỏ quạnh xuống dòng nước đang chảy giật lùi, buông một câu ráo hoác:
"Ngươi tưởng tháo được một cái xích là cứu được một cái mạng sao?"
Vương Quang quỳ một gối dưới bùn, ngẩng đầu lên, môi mấp máy run rẩy:
"Vậy cái xích đó... nó rốt cuộc là..."
Lý Tử Trình nhìn dòng sông Hát đang cuộn xoáy ngược dòng, mặt không một gợn sóng:
"...Ta không biết."
Vương Quang sững sờ:
"Ông không biết?"
Lý Tử Trình siết ngón tay lên đầu gậy tre bịt sắt, giọng lạnh tanh như nước đáy giếng:
"Biết nó không nên bị tháo, khác với biết nó dùng để làm gì."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.