Nhân Gian Có Màn

Chương 114: Hát Giang Địa Tử

Đăng: 02/10/2026 20:27 2,513 từ 4 lượt đọc

Âm thanh khè... khè... khô khốc nghẹn lại trong cổ họng người dưới vòm cống, tựa như tiếng ống bễ của lò rèn bị rách da, phát ra từng hồi đứt quãng.

Mười đầu ngón tay của bàn tay mang nhẫn ngọc xanh bấm lún vào mép vữa vôi mục nát. Dưới sức rướn của cánh tay gầy guộc, thân mình mặc áo the tím than bên trong đường hầm lại nhích thêm một phân, kéo theo tiếng kim loại nặng nề cọ xát ràn rạt trên nền đá tảng:

Rột... Rột...

Sợi xích bằng đồng thau to bản quấn chặt quanh cổ chân trái của gã căng bật lên, mắt xích kéo thẳng tắp nối vào khối đá sừng sững trong bóng tối. Lực giằng của sợi xích giữ chặt thân người lại, khiến gã không thể trườn thêm được tấc nào nữa.

Đội trưởng Ti Phổ cùng hai tên lính tuần huyện nha hoảng hồn giật lùi lại hai bước, cán mác ba chĩa run lên bần bật va vào nhau lách cách. Mấy mươi năm làm lính tuần ven sông Hát, họ chỉ quen vớt xác trôi theo con nước lũ, chưa từng thấy một kẻ bị khóa xích đồng dưới đáy hầm ngầm của chân lũy cổ mà các khớp ngón tay vẫn còn co rút cào đá như thế này.

"Đứng nguyên vị trí!" Huyện thừa Lê quát khẽ, giọng ráo hoác ghìm chặt sự náo động của đám lính: "Chưa có lệnh của bản quan, không kẻ nào được tự tiện rút đao hay cất tiếng kêu la làm kinh động dân đinh trên đê!"

Thanh Diệp không lùi. Nàng đứng sừng sững trên gờ đá, đôi mắt dài hẹp khóa chặt vào vệt xích đồng đang căng cứng trong bóng tối. Bàn tay giấu trong tay áo tơi đen khẽ siết lấy đốc chiếc trâm thép nguội, buông một câu lạnh buốt:

"Xích đồng đúc liền mắt, không có ổ khóa chốt nêm ngoài cửa hầm. Người này bị neo chặt vào khối đá kia từ trước."

Vương Quang quỳ một gối trên mỏm đá ngập bùn, hai hàm răng vẫn cắn chặt mẩu rễ cau khô đắng chát. Hắn đưa tay trái ra hiệu cho Chu Bá Cửu giữ lỏng đầu dây néo an toàn một nhịp, mắt nheo lại nhìn vào các điểm tiếp giáp giữa vòm gạch và thân gỗ dâu.

Khối gỗ dâu sau khi bị kéo dịch ra ba tấc đã nằm nghiêng một góc lệch. Trên đỉnh vòm cuốn, lớp vữa vỏ sò rạn thêm những đường nứt mới dài chừng nửa thước; từng mảng vôi chết rơi lả tả xuống mặt bùn phát ra tiếng lẹt xẹt.

Cấu trúc này không thể chịu nổi một lực chấn động mạnh nào nữa. Nếu ai đó vội vã dùng xà beng nạy đá, hoặc sợi xích đồng bị kéo giật, cả vòm gạch cuốn có thể sụp xuống nghiền nát thân người bên trong. Hắn không chui người vào khe hở ba tấc — khoảng trống quá hẹp và đầy nguy cơ cát sụt lở.

"Đưa cây đèn bão lại đây," Vương Quang hạ giọng, nói với Chu Bá Cửu: "Cầm thêm một chiếc gương đồng nhỏ."

Chu Bá Cửu tay vẫn ghìm chặt sợi dây gai vào gốc đa, vội vã đưa chiếc đèn bão bọc giấy dầu và chiếc gương đồng cạo gỉ của lính tuần xuống cho Vương Quang.

Vương Quang đón lấy ngọn đèn. Hắn nằm áp bụng xuống tảng đá dốc, luồn thanh Thiết Xích Khảo Sát qua khe hở, đầu nêm thép nguội móc vào quai sắt của cây đèn bão, chầm chậm đẩy ngọn đèn vào sâu bên trong khoang ngầm chừng năm thước.

Ánh sáng vàng quạnh của ngọn đèn bão tỏa rộng ra bốn phía, soi rõ đoạn hành lang vách cuốn:

Đoạn hầm ngầm này rộng chừng bốn thước, cao khoảng năm thước, xây cuốn bằng loại gạch vồ xám xanh bản lớn ken vữa vôi vỏ sò — kích thước và cách ken vữa gần giống loại gạch từng thấy ở chân thành Luy Lâu. Mặt nền lát những phiến đá xanh phẳng phiu nhưng đã phủ một lớp bùn phù sa mịn màng do nước thẩm thấu qua các khe nứt qua nhiều năm.

Và nằm úp sấp ngay giữa lòng đường hầm, cách miệng vòm đúng nửa trượng, là thân hình của người mặc áo the tím.

Vương Quang luồn tiếp chiếc gương đồng vào, nghiêng mặt gương đón lấy ánh sáng hắt ra từ ngọn đèn bão để quan sát khuôn mặt của người bí ẩn.

Dưới hình ảnh phản chiếu mờ nhạt trên mặt gương đồng ráp, khuôn mặt của người nọ hiện ra:

Đó là một người đàn ông trạc ngoài năm mươi tuổi. Khuôn mặt gầy guộc đến mức da bọc lấy xương gò má nhô cao; hốc mắt trũng sâu, đôi mắt nhắm nghiền với hàng mi dài bết chặt một lớp bùn cát khô xám xịt. Đôi môi mỏng nứt nẻ từng vệt sâu hoắm, đóng một lớp váng muối bùn khô cứng.

Thế nhưng, da mặt người này không hề có dấu hiệu trương phù hay rữa nát của kẻ chết chìm. Da thịt ông ta trắng nhờn nhợt như màu củ cải ngâm vôi, các thớ cơ quanh khóe miệng đang giật giật nhè nhẹ theo từng tiếng thở khè khè nghẹn đặc.

Vương Quang dùng mũi Thiết Xích cẩn thận lật vạt áo the tím rách bươm bên sườn người nọ lên một tấc.

Dưới lớp áo the dệt sợi tơ tằm viền chỉ vàng, một vật thể cứng cáp đeo bên hông lộ ra ngoài lớp bùn:

Đó là một chiếc thẻ bài bằng gỗ thị dài chừng bốn tấc, bản rộng hai tấc, bị phủ một lớp rêu đen nhớp nháp. Đầu trên của thẻ bài đục một lỗ tròn xâu sợi dây gai se bằng chỉ đỏ đã mục nát quá nửa.

"Bên hông có thẻ bài bản mộc," Vương Quang cất giọng đều đều, báo lại những gì nhìn thấy qua mặt gương: "Gỗ thị, quy thức thẻ chức danh nha môn. Có chữ khắc chìm."

"Lấy được nó ra không?" Thanh Diệp bước sát mép vòm, giọng nàng hạ thấp xuống đầy vẻ thận trọng.

Vương Quang không vội vàng. Cổ tay phải của hắn nhức buốt từng cơn do gió lạnh luồn qua kẽ áo tơi, vết sẹo dài nơi cổ tay giật giật từng nhịp khiến hắn phải gồng cứng cơ bắp tay trái để giữ vững thanh thước sắt.

Hắn xoay nhẹ cổ tay trái, đưa cạnh vát của thanh Thiết Xích luồn khéo léo vào bên dưới chiếc thẻ bài gỗ thị. Dùng lực đòn bẩy tựa vào nền đá tảng, mũi nêm thép nguội khẽ nhích lên từng phân, từ từ tách chiếc thẻ bài ra khỏi lớp vải the ẩm ướt đang bết chặt vào hông người đàn ông.

Tách.

Sợi dây gai mục đứt lìa. Chiếc thẻ bài trượt theo rãnh thép của thanh thước sắt, rơi nhẹ ra mép ngoài khe hở ba tấc.

Chu Bá Cửu nhanh tay đón lấy chiếc thẻ gỗ, dùng vạt áo thô lau sạch lớp bùn non bám trên bề mặt rồi đưa tận tay Huyện thừa Lê và Thanh Diệp.

Dưới ánh sáng ban mai xám xịt, những dòng chữ Hán khắc chìm sắc nét trên mặt gỗ thị hiện ra rõ ràng:

Mặt trước khắc sáu chữ triện lớn phủ một lớp son tàu đã khô cứng:

“BẢO THÁI THẬP BÁT NIÊN TIẾP PHỤNG.”

Mặt sau khắc hai dòng chữ nhỏ ghi chức danh và danh tính:

“Hộ Bộ Lang trung khuyết quan — Tống Hữu Triều.”

Huyện thừa Lê nhìn chằm chằm vào dòng chữ khắc trên mặt thẻ gỗ, đồng tử co rút lại. Hai bàn tay thô ráp của viên Huyện thừa già siết chặt lấy thanh bài:

"Bảo Thái... Bảo Thái thập bát niên? Mười chín năm trước?!"

Thanh Diệp nheo mắt nhìn dòng chữ son, nói nhỏ:

"Ta từng thấy cái tên này trong một mục án cũ của Đô Sát Viện. Lang trung Bộ Hộ. Mất tích trên sông Hát. Hồ sơ lưu ghi 'không tìm thấy thi thể'."

"Nhưng nha môn địa phương năm ấy lại tâu trình thuyền bị lật chìm mất xác giữa mùa lũ," Huyện thừa Lê tiếp lời, giọng đanh lại: "Hai bên ghi chép không hề khớp nhau."

Một viên Lang trung Bộ Hộ mất tích từ mười chín năm trước, từng được nha môn địa phương ghi là chết đuối, nay lại xuất hiện dưới chân vòm cống Luy Lâu với cổ chân bị khóa xích đồng. Chỉ riêng sự sai lệch giữa hai luồng hồ sơ ấy đã đủ khiến vụ bến Hát không còn là chuyện riêng của một đoạn đê hay một chuyến vận tải.

Dưới khe cống, Vương Quang không để tâm tới những chấn động hành chính phía trên. Mắt hắn dời khỏi thân thể người mặc áo the tím, hướng sâu hơn vào bên trong đường hầm ngầm.

Ngọn đèn bão đặt trên nền đá đang chiếu thẳng vào khối đá tảng sừng sững ở cuối tầm xích đồng.

Đó là một khối đá xanh nguyên khối cao chừng ba thước, rộng bốn thước, hình khối vuông vức chôn sâu nửa thân vào lòng đất đá của chân thành. Bề mặt khối đá được đục đẽo thô sơ, những mảng rêu nâu đỏ bám kín phần chân đá, màu sắc khác hẳn lớp rêu xanh mới thấy ngoài bãi bồi.

Bốn chữ lớn khắc chìm trên mặt đá:

“HÁT GIANG ĐỊA TỬ”

Nét khắc sâu gần nửa phân, vuông thành sắc cạnh theo lối chữ lệ thời cổ.

Và ngay dưới chân bốn chữ ấy, nơi sợi xích đồng thau cắm sâu vào lòng đá, Vương Quang nhìn thấy một chi tiết vật chất khác:

Phía sau lưng khối đá, hai thanh dầm bằng gỗ dâu độc mộc to bằng cột nhà đang cắm chéo vào hai vách gạch cuốn của đường hầm, ken chặt lấy thân đá tựa như một bộ khung giá đỡ.

Và trên bề mặt phiến đá xanh, ngay bên cạnh chữ "TỬ", một rãnh máng nhỏ khoét sâu vào đá đang rỉ ra từng giọt chất lỏng màu xám đục nhớp nháp — thứ dịch nhờn mang đặc tính vật chất rất giống với chất dịch đang rỉ ra từ chiếc đinh nêm nứt trên cỗ gỗ dâu ngoài bến sông.

"Không phải mộ phần..."

Lý Tử Trình chống gậy, nhìn thật lâu vào hai thanh dầm dâu phía sau khối đá.

"Cái cách đặt đá này... ta từng thấy ghi chú trong một bản vẽ cũ," hắn đưa đầu gậy chỉ vào rãnh nhỏ dưới chân phiến đá: "Người xưa gọi nó là Địa Tử."

Vương Quang không ngẩng đầu:

"Địa Tử là gì?"

Lý Tử Trình im lặng một lúc, rồi buông một câu cụt lủn:

"Không biết đủ để nói."

Hắn nhổ toẹt một bãi bã trầu cay xè xuống chân cọc:

"Nhưng chắc chắn không phải vật dùng để chôn người. Trong sách cũ có chữ 'mộng khóa'. Không phải tên một loại pháp thuật, chỉ là cách người xưa gọi những chỗ dùng vật trấn để giữ một thế đất hoặc thủy khẩu."

Nói đoạn, Lý Tử Trình đưa tay định chỉ sát vào đường rãnh rỉ dịch xám, nhưng bàn tay gầy guộc của gã bỗng khựng lại, dừng cách mặt đá đúng một tấc.

"Đừng chạm vào," Lý Tử Trình rút tay về, ngón cái miết lên đầu gậy tre bịt sắt.

"Vì sao?" Vương Quang hỏi.

"Có những thứ không phải vì độc mà không được chạm," Lý Tử Trình hạ giọng, ánh mắt liếc nhìn bốn chữ Hán khắc chìm: "Đạo môn gọi là phạm lục. Vật đã lập pháp thì người ngoài không được tự tiện động vào."

"Pháp lục?"

"Không. Chỉ là dấu của nó thôi. Muốn biết có phải thật hay không, phải xem văn lục đi cùng. Nhưng tuyệt đối không thò tay trần sờ vào."

Lời Lý Tử Trình vừa dứt, từ ngoài bãi bồi, tiếng bước chân rầm rập của toán lính áp giải lại vang lên dồn dập.

Tống Tuần Kiểm Sứ tay cầm thanh kiếm lệnh, dẫn theo bốn tên lính xách theo xích sắt to bản sải bước tiến xuống mép bùn. Khuôn mặt đẫy đà của viên Tuần Kiểm lộ rõ vẻ sốt ruột:

"Lê Huyện thừa! Giờ Thìn đã điểm rồi! Các người lề mề soi mói dưới cái cống ấy suốt nửa canh giờ, có tìm ra cái gì không? Không có biên bản của quan Phủ thì bản quan vẫn phải cho kéo gỗ đi!"

Huyện thừa Lê từ từ quay người lại.

Viên Huyện thừa già không rút đao, nhưng bàn tay thô ráp của hắn giơ cao chiếc thẻ bài bằng gỗ thị mang sáu chữ son "BẢO THÁI THẬP BÁT NIÊN", cất giọng sang sảng giữa màn mưa phùn:

"Tống Tuần Kiểm! Ngươi mang họ Tống, xuất thân từ phân nhánh gia tộc họ Tống ở bến sông Đáy... Ngươi có nhận ra chiếc quan bài của Tống Hữu Triều — nguyên Lang trung Bộ Hộ, người mất tích mười chín năm trước dưới khúc sông này không?!"

Cái tên "Tống Hữu Triều" vừa thốt ra khỏi miệng Huyện thừa Lê, Tống Tuần Kiểm Sứ đứng sững lại.

Khuôn mặt bóng nhẫy của viên Tuần Kiểm lập tức biến sắc, chuyển sang màu xám ngoét. Bàn tay đang giữ đốc kiếm lệnh siết chặt lại đến mức nổi gân xanh, nhưng hắn không bước thêm một bước nào nữa. Đôi mắt ti hí trừng trừng nhìn vào chiếc thẻ gỗ thị, giọng hắn run lên một nhịp rất khẽ:

"Chú ta... mất tích năm nào?"

Đúng khoảnh khắc câu hỏi vừa buông ra, từ sâu bên trong đường hầm ngầm chân vòm cống, một biến cố cơ học bỗng nhiên xảy ra.

RẮC!

Tiếng nứt toác khô khốc vang lên từ đỉnh vòm gạch cuốn.

Khối gỗ dâu ngoài miệng cống dưới sức ép của lớp cát đáy sông bỗng trượt lùi thêm một phân. Khoảng hở ba tấc toang rộng thêm một khoảng.

Và ngay khi khoảng hở dịch chuyển, thân hình mặc áo the tím của Tống Hữu Triều bỗng run bắn lên bần bật.

Đôi mắt nhắm nghiền suốt mười chín năm của người đàn ông bỗng nhiên mở bừng ra dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão!

Tròng mắt của ông ta không có tròng trắng, cũng không có con ngươi đen.

Toàn bộ tròng mắt là một màu xám đục như nước phù sa sông Hát ngâm lâu ngày. Đôi mắt xám ấy nhìn thẳng vào thanh Thiết Xích Khảo Sát trên tay Vương Quang, rồi từ trong khoang miệng bết đầy váng muối bùn, một chuỗi âm thanh khàn đặc, đanh buốt như tiếng sắt cọ đá rít lên từng chữ:

"Bùi Khê... chưa... trả đinh!"

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3