Nhân Gian Có Màn

Chương 99: Sổ Sách Bắt Đầu Ghi Nhận Người Chết

Đăng: 26/09/2026 11:44 2,950 từ 15 lượt đọc

Rạng sáng ngày hai mươi ba tháng Chạp. Tiết Táo Quân buông xuống bến Bùi trong một màn sương xám đục, lạnh thấu xương tủy.

Gió bấc ràn rạt thổi dọc triền sông, xua đi mùi sương muối đỏ quạch của đêm trước, nhưng lại làm bốc lên một mùi phù sa ngấu tanh nồng trộn lẫn với mùi bùn chết vừa bị sục đáy. Mặt nước sông Bùi sau cú nứt bờ nam đêm qua đã chảy thông một lạch nước mới, cuồn cuộn chảy vòng qua doi cát, né tránh bãi cọc lim và chiếc cọc ngầm cắm then.

Dưới ánh đuốc tàn lẹt đẹt của rạng đông, mười một chiếc xà lan chở hàng vạn hộc thóc lương của Đốc Vận Ty đang hối hả nhổ neo. Tiếng hò kéo chão rền vang, tiếng đòn bẩy gỗ nghiến trèo trẹo trên be thuyền, tiếng xích sắt va vào mạn thuyền kiền kiền kêu leng keng dồn dập.

Phó Đốc Vận Văn Trấn Uy đứng sừng sững trên mỏm bệ đá cao nhất của cầu tàu. Chiếc áo nẹp da hươu thuộc kỹ trên người hắn đã đóng thành từng mảng bùn phù sa khô cứng, đai da nạm bạc siết chặt lấy vòm ngực vạm vỡ. Đôi lông mày kiếm rậm rạp điểm sợi bạc giãn ra đôi chút, nhưng đôi mắt hổ phách sâu hoắm vẫn vằn đỏ những tia máu vì thức trắng hai đêm liền. Bàn tay trái thôi không xoay chiếc nhẫn phỉ thúy, mà đặt chắc nịch lên đốc thanh trường kiếm bọc da cá đuối. Hắn không nhìn ra khoảng sông mịt mùng nơi chiếc thuyền thứ mười ba từng xuất hiện nữa; ánh mắt hắn dán chặt vào mười một chiếc xà lan đang lục tục xoay mũi thuận dòng, rồi hạ xuống tờ biên bản dưới tay viên Đề lại.

Chỉ cần đoàn xà lan này rời bến an toàn trước giờ Ngọ, trách nhiệm vận lương xem như được bảo toàn.

Cách hắn ba bước chân, viên Đề lại áo chàm đang khom cái lưng gù sau chiếc rương gỗ bọc sắt kê tạm trên thềm đá. Khuôn mặt thanh tú trắng bệch như bột dong của hắn căng thẳng tột độ; mười đầu ngón tay khẳng khiu dính đầy vệt mực nho tím than cào ngọn bút lông lia lịa trên tờ giấy bản khổ lớn.

Văn Trấn Uy liếc mắt nhìn xuống tờ giấy, cất giọng đanh gọn:

"Đọc lại mục duyên do."

Viên Đề lại nuốt khan một búng nước bọt, cất giọng khàn đặc:

"Khởi bẩm quan lớn... Đã thảo xong trình Đốc Phủ: 'Giờ Tỵ ngày hai mươi mốt Chạp, dòng nước lũ mùa đông từ thượng nguồn dồn toa đột ngột, gây sạt lở đê ngầm bất khả kháng tại bờ nam bến Bùi. Xà lan số ba va phải doi cát sụt, đứt dây kéo bờ, nghiêng lật trôi mất ba ngàn hộc lương. Đoàn tuần giang cùng quân áp mạn đã kịp thời ghìm giữ mười một xà lan còn lại, khơi thông luồng lạch phụ, bảo toàn đại cuộc xuôi dòng'."

Văn Trấn Uy gật đầu, cơ quai hàm bạnh ra đanh thép:

"Gạch bỏ toàn bộ chữ 'cọc gỗ'. Không ghi một chữ nào về chiếc thuyền tạp trôi ngược hay hai chữ bùn ngoài sông. Chuyện chiếc cọc lim trồi lên... quy hết vào cọc tiêu của bến đò cũ bị lũ cuốn."

"Dạ, hạ quan đã hiểu."

Đó là bản năng sinh tồn trần tục và tàn nhẫn của guồng máy quan trường. Văn Trấn Uy không mưu toan che giấu cõi chết; hắn chỉ đơn thuần dùng ngòi bút hành chính để gạt phăng mọi thứ dị thường vượt ngoài khuôn phép nha môn, biến một biến cố kinh hoàng thành một vụ tai nạn luồng lạch có thể giải trình được trước các quan thanh tra Đô Sát Viện.

"Mau kiểm đinh phu trên bờ!" Văn Trấn Uy phất tay: "Phát chẩn tiền gạo, cấp giấy lộ dẫn rồi giải tán đám phu tạp. Trước giờ Ngọ bến này phải sạch bóng người!"

"Tuân lệnh quan lớn."

Viên Đề lại ôm chiếc tráp gỗ cùng cuốn sổ bộ bìa xanh dày cộp bước xuống sân Điếm tuần.

Đám phu đò, phu kéo cáp và con buôn mắc kẹt đang ngồi co ro bên bờ rào nứa lập tức bị quân lính cầm đoản mác lùa lại, xếp thành hai hàng dọc trên bãi cát ướt. Ai nấy mặt mũi xám ngoét, run rẩy chờ nhận tiền chẩn để tháo chạy khỏi khúc sông quái gở này.

Một tên cai tuần áp mạn cầm chiếc gậy tre đi dọc theo hàng, gõ vào vai từng người đếm lớn:

"Một... hai... mười... hai mươi... ba mươi lăm... bốn mươi lăm... bốn mươi sáu! Báo quan Đề lại: Toàn bộ phu đò, phu trạm và người làm thuê còn lại trên bờ có đúng bốn mươi sáu người!"

Viên Đề lại ngồi thụp xuống một góc phản gỗ, mở cuốn sổ bộ bìa xanh — cuốn sổ ghi nhận danh sách phu dịch được Đốc Vận Ty trưng dụng từ đầu chiến dịch vận lương. Hắn nhúng ngọn bút lông vào nghiên mực đen, lật từng trang, dùng đầu bút đếm lại các dòng tên đã điểm chỉ son đỏ:

"Một... hai... mười lăm... ba mươi... bốn mươi lăm... bốn mươi sáu..."

Ngọn bút lông của viên Đề lại đột ngột khựng lại trên mặt giấy bổi.

Đôi mắt một mí dài hẹp của hắn trợn trừng lên, con ngươi đen nhánh co giật kịch liệt. Hắn cúi rạp cái lưng gù xuống sát mặt giấy, đưa ngón tay khẳng khiu dính mực tím than rà lại từ đầu dòng.

Đếm lần thứ hai: Bốn mươi bảy.

Đếm lần thứ ba: Vẫn đúng bốn mươi bảy dòng.

Mồ hôi hột trên trán viên Đề lại rỉ ra ướt đẫm hai bên thái dương, nhỏ tong tỏng xuống mặt phản gỗ. Đếm người sống trên cát chỉ có bốn mươi sáu cái đầu. Nhưng trong cuốn sổ bộ quan phòng này, rõ ràng thừa ra một dòng tên có người nhận phần!

"Có chuyện gì?"

Một giọng nói trầm đục, khô khốc cất lên ngay bên tai viên Đề lại.

Vương Quang bước tới từ lúc nào. Hắn đứng tựa vào thanh Thiết Xích Khảo Sát, vai phải nẹp chặt vết thương rỉ mủ vàng tanh tưởi, con mắt trái đen sâu hoang lạnh nhìn xoáy vào trang sổ mở rộng.

Viên Đề lại run lẩy bẩy, ngón tay chỉ vào góc dưới cùng của trang giấy bổi:

"Thầy... Thầy nhìn xem... Sáng nay kiểm người trên bãi chỉ có bốn mươi sáu... Nhưng ở đây..."

Vương Quang cúi đầu nhìn xuống.

Ở cột ghi nhận cấp phát lương thuyền và lộ dẫn góc dưới, hiện rõ một dòng chữ viết bằng mực nho mới tinh. Nét chữ sắc cạnh, vuông vức, lực bút ấn mạnh làm hằn sâu vào thớ giấy ẩm, mang phong cách rập khuôn của thợ chép hồ sơ công xưởng:

“Lục Đinh — đã lĩnh thuyền.”

Và ngay bên cạnh ba chữ “đã lĩnh thuyền”, có một con dấu kiểm đinh màu đỏ tươi đóng đè lên một nửa dòng tên.

Đó là một con dấu nhỏ bằng ngón tay cái, mang hình chiếc lá liễu bị khuyết một góc — con dấu sắc lẹm, mực son tươi rói, hoàn toàn khác biệt với con dấu vuông vức của huyện nha Bùi Khê hay dấu triện hình sóng nước của Đốc Vận Ty.

Vương Quang nheo mắt lại.

Hắn thò ngón tay cái bên trái — ngón tay đang tê dại vì cái lạnh rút tủy — quẹt nhẹ lên vệt mực đen của chữ “Lục Đinh”.

Mực còn hơi ẩm. Dòng chữ này được viết không lâu trước khi cuốn sổ được mở ra trên phản gỗ.

Trong đầu Vương Quang, các dữ kiện hiện trường lập tức được đặt cạnh nhau: Lục Đinh đã chết trên Đèo Gió, cổ bị chém toạc khí quản; xác Lục Đinh biến mất khỏi chiếc chiếu cói đêm qua; và chính bàn tay trái của Vương Quang lúc này vẫn đang chạm vào tấm thẻ bài bằng gỗ bọc đồng của Dịch phu Lục Đinh trong túi áo ngực. Người sống trên bãi cát chỉ có bốn mươi sáu người. Thế nhưng, tên Lục Đinh lại vừa được ghi nhận hoàn tất việc nhận thuyền.

Có người đã bổ sung dòng chữ này giữa lúc bến sông hỗn loạn, hoặc có một quy trình nào đó đã khiến nó xuất hiện trên trang giấy. Hắn chưa có dữ kiện để biết là khả năng nào.

Vương Quang đưa hai tay gập mạnh cuốn sổ bộ bìa xanh lại.

Phập.

Hắn nín thở trong một nhịp, rồi chậm rãi lật cuốn sổ ra một lần nữa.

Dòng chữ đen nhánh “Lục Đinh — đã lĩnh thuyền” và con dấu lá liễu khuyết góc màu đỏ tươi vẫn nằm trơ trọi ở đó, sắc lạnh trên trang giấy bổi ẩm mốc.

Hắn không gọi đó là ma quỷ lộng hành. Hắn ép bản thân dừng lại trước bờ vực của sự suy diễn hoang đường. Một kẻ từng làm thư lại sao chép hồ sơ như hắn chỉ rút ra một kết luận duy nhất đúng với giới hạn chứng cứ:

Có một quy trình ghi nhận nào đó đang tiếp tục coi Lục Đinh là người còn thuộc danh sách.

Ai đã viết dòng chữ này? Con dấu hình lá liễu khuyết góc kia thuộc về nha môn nào? Chiếc thuyền mà Lục Đinh "đã lĩnh" là chiếc thuyền nào trong dòng nước ngoài kia?

Vương Quang không có câu trả lời. Hắn chỉ biết rằng một sự sai lệch nghiêm trọng đã xảy ra ngay trên giấy tờ chính thức của nha môn.

"Vương Ký lục."

Tiếng gọi trầm nặng của Văn Trấn Uy cắt ngang dòng suy nghĩ của hắn.

Viên Phó Đốc Vận bước tới, ra hiệu cho viên Đề lại ôm sổ lui ra xa. Ánh mắt hổ phách của Văn Trấn Uy nhìn trừng trừng vào Vương Quang, rồi hắn thò tay vào trong nẹp áo da hươu, rút ra một phong bì giấy dầu dày cộp cùng một túi vải thô nhỏ đặt lên mặt phản gỗ.

"Đây là Lộ dẫn đặc biệt của Đốc Vận Ty, có dấu triện thông hành qua toàn bộ các trạm dịch thủy bộ từ bến Bùi xuôi về mạn nam," Văn Trấn Uy cất giọng đanh gọn: "Trong túi có mười lượng bạc vụn. Cầm lấy. Chi phí đường sá và thuốc men cho lão thợ đá."

Vương Quang nhìn chiếc phong bì giấy dầu và túi bạc, không vội cầm lấy:

"Ý của quan lớn là..."

"Ý của bản quan là các ngươi phải rời khỏi bến Bùi ngay trước giờ Ngọ," Văn Trấn Uy gằn từng tiếng qua kẽ răng, giọng nói mang sức nặng của một quân lệnh không thể thương lượng: "Vụ lật xà lan ở đây đã kết án do lũ quét. Không có chuyện cọc đá, không có chuông đồng, và càng không có chiếc thuyền thứ mười ba nào hết. Cầm lấy lộ dẫn mà đưa người đi tìm thầy lang. Rời khỏi bờ sông này, đừng bao giờ nhắc lại chuyện ở bến Bùi nữa."

Vương Quang nhìn sâu vào đôi mắt vằn máu của viên quan tứ phẩm. Hắn hiểu rất rõ: Đây vừa là sự trợ giúp thực tế, vừa là lời cảnh báo dứt khoát. Đứng trước một guồng máy quyền lực đang tìm cách khép lại hồ sơ sự cố, một kẻ ngoại ngạch như hắn nếu từ chối tờ lộ dẫn này thì sẽ khó lòng bảo toàn tính mạng cho bản thân và hai người đi cùng.

"Hạ quan tuân lệnh quan lớn."

Vương Quang vươn bàn tay trái thô ráp cầm lấy tờ lộ dẫn và túi bạc, nhét gọn vào túi trong áo chàm.

Hắn quay gót, bước từng bước tập tễnh về phía chái kho muối tối tăm.

Bên trong gian kho ẩm mục, ánh sáng le lói qua khe nứa chiếu thẳng vào đống bao tải muối vỡ miệng góc tường. Vương Quang ngồi thụp xuống, thò tay vào đáy đống bao tải ẩm — nơi có vết rạch mỏng dính và sợi chỉ tơ chàm ánh bạc mà hắn phát hiện chiều qua.

Các ngón tay hắn chạm vào lớp da thuộc khô ráp. Hắn lôi chiếc phong bì da hươu niêm sáp son mang bốn chữ “BÙI KHÊ THỦY ĐẠO” ra ngoài, cẩn thận nhét sâu vào nẹp áo ngực, áp chặt vào lớp vải lót bên sườn trái.

Con dấu lá liễu khuyết góc ngoài sân điếm và vết rạch bao muối này chứng minh có một đường giấy tờ khác đã chạm vào vụ việc ở bến Bùi. Nhưng đường dây ấy xuất phát từ nha môn nào, đi qua tay những ai, hắn hoàn toàn chưa có đủ chứng cứ để kết luận.

"Thầy ơi! Xe bò chuẩn bị xong rồi!"

Tiếng Chu Bá Cửu gọi giật giọng từ ngoài cửa kho.

Vương Quang bước ra sân sau. Một cỗ xe bò tiều tụy phủ rơm khô đã đợi sẵn. Lão Bùi nằm co quắp trên đống rơm, chiếc chân gãy vặn thớ được nẹp chặt bằng hai thanh tre già, mặt mũi lão tái mét vì cơn sốt, nhưng nhịp thở đã bớt khò khè.

Chu Bá Cửu đang còng lưng buộc lại dây chão quanh chiếc gùi tre bọc chiếu cói. Nhìn thấy Vương Quang bước tới, gã vội vã kéo hé miệng gùi, khuôn mặt chữ điền rám nắng lộ rõ vẻ bàng hoàng:

"Thầy... Thầy nhìn chiếc hộp gỗ trắc này đi..."

Vương Quang cúi đầu nhìn vào đáy gùi.

Chiếc hộp gỗ trắc đựng mảnh đá bát giác chữ “Trấn” đang mở toang nắp. Mảnh đá nặng gần trăm cân đã nằm sâu dưới nước khoảng ba trượng từ đêm qua, chiếc hộp bên trong rỗng không.

Thế nhưng, dưới đáy hộp gỗ nhẵn thín, lúc này lại đọng lại một lớp bột màu xanh đen, bám chặt vào từng thớ gỗ.

Vương Quang vươn đầu ngón tay quệt rất nhẹ một ít bột. Hạt bột không mịn như muội than, cũng không có màu xanh thuần của đồng rỉ. Khi đưa sát lên mũi, mùi chua hắc của phèn lẫn với một thứ tanh nồng kim loại bốc lên khiến cổ họng hắn se lại.

Chiếc gùi tre này suốt từ đêm qua luôn nằm trên lưng Chu Bá Cửu hoặc đặt ngay cạnh chân hắn, nắp hộp cài then tre cẩn mật. Thứ bột này là cặn của khối đá rã ra, chất bám từ chân cọc, hay là thứ đã có sẵn trong kẽ gỗ từ trước? Hắn chưa thể xác định được nguyên nhân.

"Đậy nắp lại. Buộc chặt gùi," Vương Quang cất giọng khàn đặc: "Đi thôi."

Hắn bước lên cạnh càng xe bò. Mỗi bước chân của hắn lúc này nặng như đeo đá.

Năm đầu ngón tay trái của hắn tê dại, mất hẳn cảm giác xúc giác mịn; vết mổ nơi xương quai xanh bên vai phải rỉ mủ vàng hòa lẫn dịch nhầy tanh tưởi, cọ xát vào lớp vải chàm đau buốt từng chặp; và nơi mắt phải, lớp màng xám đang từ từ co cụm lại, kết thành một vòng đồng tâm viền đen sắc cạnh quanh con ngươi.

Hắn thò tay vào túi vải, nhổ một búng bã trầu đã cạn vị, nhét vào miệng một miếng trầu cay xè mới cùng một mẩu vôi nồng. Vị cay gắt xé lưỡi bùng lên trong khoang miệng, kéo hắn trở lại với cảm giác của đầu lưỡi và vòm họng.

Cọt kẹt... cọt kẹt...

Chiếc xe bò chở ba con người chầm chậm lăn bánh trên con đường đất lầy lội, rời khỏi bến Bùi hướng về phía bình nguyên cửa ngõ xứ Đoài.

Đến khúc quanh chân đồi thông đá, Vương Quang bỗng dừng bước, vịn tay vào càng gỗ xe bò, ngoái đầu nhìn lại dòng sông lần cuối.

Dưới ánh nắng ban mai xám xịt của ngày hăm ba tháng Chạp, mười một chiếc xà lan chở thóc lương đã giương buồm khuất sau doi cát hạ lưu. Dòng sông Bùi cuộn đỏ phù sa, trôi đi như thể chưa từng có chiếc xà lan nào bị đắm, chưa từng có chiếc thuyền thứ mười ba nào cắm sào giữa dòng.

Thế nhưng, ngay tại vị trí chiếc cọc lim chữ “HẠN” bị kéo bật hôm qua, giữa dòng nước đỏ ngầu đang chảy xiết, bỗng nhô lên một chiếc cọc gỗ mới toe.

Chiếc cọc gỗ vót nhọn cắm thẳng đứng giữa lòng sông.

Và trên đầu chiếc cọc ấy, có buộc chặt một dải vải đay thô màu chàm sũng nước — dải vải lay nhẹ theo chiều sóng nước, và Vương Quang nhận ra rõ ràng: Đó chính là mảnh vải rách từ vạt áo chàm bên sườn của hắn, bị giật đứt lúc hắn ngụp lặn dưới chân cọc đêm qua.

Mảnh vải chàm quấn quanh đầu cọc, sũng nước, lay nhẹ trong dòng chảy.

Vương Quang nhìn nó rất lâu.

Hắn không biết vì sao mảnh vải lại ở đó, cũng không biết chiếc cọc mới này được cắm xuống vì mục đích gì. Hắn chỉ biết rằng, từ giờ trở đi, tại khúc bến sông này, bản thân hắn không còn đơn thuần là một kẻ đứng ngoài đo đạc hiện trường nữa.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3