Nhân Gian Có Màn

Chương 106: Vòm Cống Cổ Thành

Đăng: 30/09/2026 10:44 2,078 từ 10 lượt đọc

Ba tiếng gõ khô khốc từ trong lòng vòm cống gạch mục vừa dứt, bãi bồi ven sông Hát rơi vào một sự tĩnh lặng nghẹt thở.

Nước sông rút cạn để lại một dải lòng máng nhơ nhớp phù sa và đá cuội. Hàng vạn con ốc rêu, cá nhỏ giãy đành đạch trên mặt bùn lầy đang bốc lên mùi tanh nồng quyện với mùi lưu huỳnh hăng hắc. Trên cao, giàn tời gỗ nghiến rên lên từng hồi kẽo kẹt; cỗ thân cây gỗ dâu độc mộc bị mất lực nâng của nước, toàn bộ sức nặng ngàn cân dồn ép lên bốn sợi xích sắt, treo nghiêng một góc bốn mươi lăm độ như một khối đá tảng chực bổ xuống lòng sông trơ đáy.

"Chạy... Đê vỡ đến nơi rồi!"

Đám phu phen ngoài bãi cát hoảng loạn gào thét, xô đẩy nhau chạy tháo thân lên dốc đê. Nước sông đột ngột rút cạn là dấu hiệu đáng sợ của nền đất trượt hoặc một mạch nước lớn vừa bị phá vỡ; một khi con nước dồn toa từ thượng nguồn đổ ập trở lại, một ngọn sóng đầu bạc có thể cuốn phăng toàn bộ công trường trong chớp mắt.

"Đứng lại!"

Huyện thừa Lê bước phăng phăng ra khỏi cửa điếm tuần. Gương mặt vuông vức của hắn đanh lại, tay phải túm chặt lấy chuôi ấn đồng giắt bên hông, giọng quát át cả tiếng gió bấc:

"Đội trưởng Ti Phổ! Kéo dây cấm giới, phong tỏa chân đê! Kẻ nào dám chạy trốn khỏi công trường, chém không cần hỏi!"

Đội trưởng tuần kiểm giật mình, lập tức tuốt đoản đao sáng loáng, cùng mười mấy tên lính tuần dàn hàng ngang chặn cứng con đường độc đạo dẫn lên mặt đê. Lưỡi đao lạnh toát cản bước đám phu phen đang tán loạn, ép họ phải dạt vào các gò đất cao phía sau điếm tuần.

Huyện thừa Lê không nhìn đám phu đang run rẩy. Hắn quay ngoắt sang Đội trưởng Ti Phổ, ngón tay chỉ thẳng về phía những chiếc lều bạt dã chiến ở đầu bãi:

"Mang theo bốn tên lính mang xiềng sắt tới trạm xá phu dịch! Trói gô Đề lại Hoàng giải về đây cho bản quan! Nếu hắn chết hoặc biến mất trước khi bản quan hỏi cung, chính cái đầu của ngươi sẽ thế vào chiếc cùm ấy!"

"Tuân lệnh quan lớn!" Đội trưởng Ti Phổ tái mặt, dẫn ngay một toán lính vội vã lội bùn chạy ngược lên phía trạm xá.

Cùng lúc đó, trước cửa điếm tuần, người đàn ông mang tên Trần Tứ bỗng có biến động.

Khi ba tiếng gõ dưới lòng cống dội lên, cơ thể gã giật nảy một nhịp. Đầu gã chầm chậm xoay nghiêng, hai tròng mắt đục ngầu không hề chớp hướng thẳng xuống dải lòng máng vừa cạn nước. Nơi xương quai xanh bên phải, chiếc thẻ chì hình bát giác căng cứng, kéo giật mép da thịt tái mét khiến một vệt dịch nâu sẫm rỉ ra dọc theo những đường chỉ chàm đâm sâu qua da thịt.

Thanh Diệp đứng cách gã đúng ba bước chân, bàn tay giấu trong vạt áo tơi đen khẽ siết lấy chiếc trâm thép nguội. Nàng không cản gã, nhưng ánh mắt dài hẹp khóa chặt vào từng cử động của gã đàn ông mang thẻ chì. Nàng chỉ lạnh lùng quan sát, không hề buông một lời suy đoán nào về lai lịch của thứ kim loại đang gắn trên thân xác ấy.

Vương Quang bước xuống bậc thềm đất nện.

Hắn cắn chặt mẩu rễ cau khô trong miệng để ghìm lại cơn run rẩy nơi đầu ngón tay. Vết mổ rỉ mủ nơi vai phải nhức buốt từng cơn, còn con mắt phải mang vòng đồng tâm viền đen lạnh ngắt như áp một tảng băng vào thái dương. Hắn gạt mọi cơn đau thể xác; đôi ủng da trâu dẫm phập xuống lớp bùn lòng máng trơ đáy.

"Thầy... Dưới đó nguy hiểm lắm!" Chu Bá Cửu hoảng hốt vác xẻng sắt chạy theo.

"Cầm lấy đầu cuộn dây gai," Vương Quang buông một câu khô khốc, tay trái rút thanh Thiết Xích Khảo Sát tì xuống lớp bùn nhão làm điểm tựa: "Đứng trên gờ đá giữ dây néo. Thấy tao giật ba nhịp thì kéo lại."

Lão Địa sư bưng chiếc la bàn gỗ thị cũng lật đật lội bùn bám theo sau lưng Vương Quang chừng năm bước. Lão vừa đi vừa cắm những chiếc que tre nhỏ xuống mặt bùn để dò mạch đất sụt, miệng lẩm bẩm:

"Kỳ quái... Nước ngã ba sông đổ về như thác, làm sao khúc bến này lại cạn trơ đáy trong chớp mắt được? Trừ phi... dưới lòng cống có một cái họng nuốt nước!"

Vương Quang bước tới mép vòm cống gạch vỡ vừa lộ ra dưới đáy sông.

Đó là một vòm cống hình bán nguyệt, cao chừng nửa trượng, rộng hơn bốn thước, xây bằng loại gạch vồ xám xanh nung già, mạch vữa liên kết bằng vôi trộn vỏ sò giã mịn. Kiểu xây này không xa lạ với những công trình cũ hắn từng thấy trong các bản vẽ đê điều, nhưng hắn chưa thể nói nó thuộc thời nào. Qua thời gian dài bị vùi lấp dưới phù sa, cửa vòm bám đầy rêu đen và vỏ trai ốc đóng tảng.

Thế nhưng, điều đập thẳng vào mắt Vương Quang là những dấu vết nhân tạo rất rõ ràng.

Hắn dùng đầu nêm thép của thanh thước sắt cạo một mảng bùn non bám trên thành vòm cuốn. Dưới mũi thước, lớp bùn bong ra để lộ những vết đục sắt sắc cạnh. Mép đá chưa hề bị nước bào mòn, mép gạch còn vương vệt cát trắng xỉn — việc phá cửa cuốn này hẳn không diễn ra từ lâu.

Luồng khí từ sâu bên trong lòng cống thổi ngược ra ngoài bãi cát rồi đột ngột đổi chiều.

Vương Quang thả một nhúm cỏ khô trước cửa vòm; nhúm cỏ không bị gió bấc cuốn đi, mà bị luồng gió dưới lòng cống hút tọt vào bên trong bóng tối.

"Miệng cống bị đục mở có chủ đích," Vương Quang áp cạnh thước sắt đo khẩu độ vòm cống: "Nước sông Hát không tự nhiên biến mất. Nó có thể đã bị hút vào khoảng rỗng phía dưới."

Hắn dừng lại một nhịp, nhìn sâu vào lòng cống tối om:

"Còn nó dẫn đi đâu... chưa biết."

Lão Địa sư nheo mắt nhìn dòng bùn trượt vào lòng vòm, cất giọng đầy lo lắng:

"Nếu nước cứ chảy vào dưới nền như thế, dải gò phía tây thành khó mà chịu nổi. Trước kia từng có nền đất sụt sau những trận nước lớn, huống chi đây là một cái vòm rỗng!"

Chưa kịp để Vương Quang kiểm tra thêm các số đo, một tiếng quát tháo từ phía bờ đê vọng xuống.

Toán lính của Đội trưởng Ti Phổ đã quay trở lại.

Hai tên lính tuần xốc nách lôi một người đàn ông mặc áo chẽn xanh bê bết bùn đất quẳng xuống trước thềm điếm tuần. Người này chừng ba mươi lăm tuổi, khuôn mặt nhọn hoắt dính vệt bồ hóng, môi thâm sì, toàn thân run bần bật.

Đó chính là Đề lại Hoàng của Thủy Đạo Ty.

Huyện thừa Lê sải bước tới, mũi ủng da trâu giẫm mạnh xuống nền đất sát mu bàn tay viên Đề lại. Giọng Huyện thừa đanh đục:

"Hoàng Đề lại. Ngươi bảo ngươi trúng gió độc nằm liệt giường, vậy mà lính của ta lại bắt được ngươi đang chui rúc dưới gầm sàn thuyền chài, tay ôm tay nải định vượt sông trốn sang phủ Quốc Oai là cớ làm sao?"

Viên Đề lại rên lên một tiếng, hai hàm răng va vào nhau lập cập:

"Quan... Quan lớn tha mạng! Tiểu nhân... tiểu nhân bị ép... tiểu nhân không biết gì hết!"

Chủ bạ Đặng bước tới, giật chiếc tay nải bằng vải bố giấu trong ngực áo viên Đề lại.

Miệng túi mở toang. Bên trong rơi ra hai thứ đồ vật lăn lốc trên nền đất:

Một chiếc ống đục bằng đồng thau hình bát giác dài chừng nửa thước, đầu ống vạt nhọn thành tám cạnh sắc, dính đầy chất keo màu đỏ sẫm pha dầu trẩu.

Và một tờ công văn điều động nhân công khẩn cấp bằng giấy bổi, trên mặt giấy có đóng một con dấu hình quả trám viền hoa văn cuộn ngược chiều kim đồng hồ. Dấu son mờ nhạt, một góc bị cọ xước nham nhở, chỉ nhận ra được ba chữ triện khắc chìm bằng nét thảo:

“Thừa Phụng Thủy...”

Huyện thừa Lê cúi người nhặt tờ công văn lên. Dưới ánh sáng lồng kính đỏ quạnh, đôi mắt một mí của hắn nheo lại:

"Điều động mười bảy dân phu từ các bến hạ lưu dồn về bãi tời Luy Lâu... Con dấu này mang danh Khâm Thiên Giám?"

Chủ bạ Đặng ghé sát ngọn đèn, nheo mắt nhìn vết son:

"Bẩm quan lớn, chỉ nhận ra được mấy chữ 'Thừa Phụng Thủy'. Phần chức danh và phiên hiệu cơ quan phía dưới bị cạo mòn, không thể đối chiếu trong sổ công văn huyện."

Huyện thừa Lê ngẩng đầu lên, ánh mắt lạnh băng quét qua Đốc Công Thủy Đạo đang run rẩy, rồi quay sang viên Đề lại nằm dưới đất:

"Hoàng Đề lại, ai là kẻ trực tiếp giao tờ công văn và chiếc ống đục này cho ngươi?"

Viên Đề lại nằm dập đầu xuống bùn lầy, giọng khàn đặc trong sự hoảng loạn:

"Là... là một người mặc áo choàng lông quạ đen! Hắn đi ngựa trạm về bến đêm mười chín... Hắn đưa ra một lệnh bài mà tiểu nhân chỉ biết là của Khâm Thiên Giám, ép tiểu nhân phải ghi tên mười bảy người vào sổ đinh của huyện trước ngày hăm hai! Hắn bảo nếu cỗ gỗ dưới sông không cẩu lên được, thì phải dùng tên... dùng dấu trên giấy... để giữ nó, để đè cái tên xuống..."

"Hắn tên gì?" Thanh Diệp bước lên một bước, giọng nói lạnh tanh.

Viên Đề lại ngẩng khuôn mặt nhơ nhuốc lên, trong mắt lộ rõ nỗi sợ:

"Tiểu nhân không biết tên hắn... Nhưng trên ngực áo hắn... thêu hình một con quạ đen ba chân ngậm thước sắt!"

Vương Quang đứng dưới bãi cát khựng người lại. Con quạ ba chân ngậm thước sắt — một hình tượng phù hiệu hắn chưa từng thấy trong quy chế trang phục của Khâm Thiên Giám mà hắn từng chép sổ.

Đúng lúc ấy, một tiếng rạn nứt đột ngột bùng nổ từ phía giàn tời.

RẮC... RẮC... UỲNH!

Nền đất bãi bồi sụt trượt kéo theo chân giàn tời gỗ nghiến oằn mình gãy gục. Một thân cột chống bằng gỗ lim bị sức nặng của cỗ gỗ dâu giằng đứt cáp, bật tung mộng ngàm, gãy đôi đánh sập xuống mặt bùn.

Khối gỗ dâu độc mộc nặng trịch trượt dài theo dốc cát sụt lở, lao thẳng xuống dải lòng sông trơ đáy.

Khối gỗ trượt theo con rãnh bùn nhão, đâm thẳng về phía miệng vòm cống gạch vỡ, cắm phập đầu hồi vào giữa miệng cống ngầm.

KENG!

Mặt đĩa đồng thau mười hai cánh sao trên nắp cỗ gỗ va chạm với vòm gạch cổ, phát ra một tiếng ngân khô khốc. Khối gỗ nằm kẹt cứng ngay miệng vòm, chắn ngang dòng khí đang hút vào bóng tối.

Và ngay khoảnh khắc khối gỗ chèn chặt cửa vòm, trên mặt đê lầy lội, bóng một con ngựa trạm đen tuyền bỗng lặng lẽ xuất hiện trong màn sương mù mịt.

Người trên lưng ngựa không xuống. Bàn tay đeo găng da đen tuyền vẫn đặt hờ trên dây cương ghìm chặt con ngựa đứng yên phăng phắc, chiếc áo choàng lông quạ đen rủ xuống quá bàn đạp sắt. Dưới vành nón dấu buông rèm vải chống rét, một đôi mắt lạnh lùng nhìn trừng trừng xuống đáy lòng sông cạn nước; bên vai trái của gã, đầu một cây cung sắt ngắn dựng đứng sừng sững trong gió bấc.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3