Nhân Gian Có Màn

Chương 135: Dòng Nước Cũ Hát Giang

Đăng: 12/10/2026 16:57 2,005 từ 15 lượt đọc

Đến ngày thứ bảy của đợt nghỉ việc ngoài bãi, những cuộn đồ bản thời Hồng Đức đã vơi đi quá nửa trong sọt tre của Giá khố.

Gian kho vách đất sét vẫn chìm trong bầu không khí lạnh ngắt và tĩnh mịch. Hai ngọn đèn dầu lạc tỏa ánh sáng vàng qua chụp sừng trâu, hắt lên mặt bàn gỗ gụ những vệt bóng dài. Mùi giấm thanh bốc lên thoang thoảng từ chiếc ấm gốm con, quyện cùng mùi bụi giấy khô và phèn đen nồng nặc.

Vương Quang ngồi bên án thư, lưng thẳng, nhịp thở giữ đều đặn.

Sau một tuần dùng thuốc ngâm quế chi và chườm nóng, bàn tay phải của hắn đã bớt sưng mọng, lớp da xám tro quanh vết sẹo nạo xương nhạt dần. Nhưng các khớp ngón tay vẫn còn đơ cứng, cử động gập vào rất khó khăn và buốt nhói nếu gắng gượng. Hắn không dồn lực vào tay phải; khi làm việc, hắn chỉ đặt nhẹ cẳng tay lên mép dải vải xô để chặn nếp giấy làm điểm tựa thụ động, nhường toàn bộ thao tác lách dao tre và gạt bụi cho tay trái.

Tay trái của hắn sau nhiều ngày cầm dao cật tre đã quen cữ lực. Khi mũi tre chạm vào những mảng cặn khô cứng, hắn không cố sức đẩy thẳng mà hơi nghiêng vai, nương theo chiều xơ vỏ cây dó để tách dần từng lớp một.

Chu Bá Cửu ngồi ở đầu bàn đối diện, hai tay cẩn thận cuộn lại bức đồ bản vừa làm khô:

"Thầy... ống thứ hai mươi tư này xong rồi. Nét vẽ đoạn hạ lưu sông Nhuệ còn nguyên, mép lề dính chút bùn khô nhưng không mất chữ nào."

Vương Quang khẽ gật đầu, đưa cuộn giấy mới rút từ ống đồng thứ hai mươi lăm lên gối gỗ bọc lụa:

"Ghi số thứ tự vào sổ giao nhận. Đổi thanh nẹp chì sang bên mép cuộn hai mươi ba."

Hắn nhìn ống đồng thứ hai mươi lăm vừa mở nắp.

Khác với những ống trước bọc vải điều đã ố vàng, thân ống này có khắc chìm một dòng chữ triện: Hồng Đức Niên Gian — Hát Giang Thủy Đạo Đồ.

Hát Giang.

Vương Quang khẽ dừng tay. Khúc sông Hát — dòng phân lưu cổ tách từ sông Hồng ở Hát Môn dẫn nước vào lưu vực sông Đáy, luồng nước mùa lũ chảy xiết qua nhiều ghềnh bãi trước khi xuôi về bến Bùi ở hạ lưu.

Sau khi dùng mũi tre cạo sạch lớp sáp niêm phong quanh miệng ống, Vương Quang rút cuộn giấy bản bên trong ra.

Cuộn đồ bản này dày hơn bình thường, được bồi nhiều lớp giấy dó ngâm phèn. Nhờ lớp giấy dày dặn, phần ruột bên trong không bị nước ngấm sâu, nhưng mép cuộn lại bị một lớp vảy bùn khô màu đỏ gạch bám chặt — thứ cặn quặng đá đỏ thường gặp ở vùng thượng lưu sông Hát trôi dạt về.

"Cửu," Vương Quang gọi: "Hơi giấm thanh không dùng cho lớp cặn đỏ này được. Gặp hơi chua, cặn khoáng dễ đóng kết tủa làm ố thớ giấy."

Thằng Cửu giật mình, vội nhấc chiếc ấm gốm ra khỏi bếp than: "Thế phải làm sao hả thầy?"

"Lấy âu nước mưa hứng sau bể kho, hòa với một chén nhỏ rượu ngâm gừng đã lọc sạch cặn."

Thằng Cửu nhanh nhẹn chạy ra ngoài, lát sau bưng vào một chiếc âu sành nhỏ.

Vương Quang không vội quét nước lên bản đồ ngay. Hắn dùng một chiếc bút lông thỏ sạch, nhúng đầu bút vào hỗn hợp nước mưa pha rượu gừng, gạt thật ráo trên miệng âu. Hắn tìm một mẩu mép giấy biên vụn không có nét vẽ ở ngoài cùng, chấm thử một giọt nước rất nhỏ lên lớp cặn đỏ để quan sát.

Chờ chừng mười nhịp thở, thấy giọt nước ẩm làm lớp vảy khoáng từ từ bở ra mà thớ vỏ dó bên dưới không bị sũng nước hay loang màu, hắn mới bắt đầu thao tác trên mép cuộn giấy.

Đầu bút ẩm đi đến đâu, lớp váng đỏ mềm rã ra đến đó. Mũi dao tre của hắn gạt nhẹ từng mảng cặn bong ra, để lộ mép giấy nguyên vẹn bên dưới.

Gần một canh giờ sau, cuộn bản đồ Hát Giang mới được trải phẳng trên mặt bàn gụ dài gần hai trượng.

Viên Lại giám coi kho Lão Thôi đang ghi sổ ở góc phòng, nghe tiếng giấy bản mở rộng sột soạt liền đẩy cặp kính gọng đồng lên trán, chống gậy bước lại gần.

Đôi mắt đục mờ của lão nhìn qua mép giấy phẳng phiu, rồi liếc chiếc bút lông thỏ ẩm đặt trên giá sứ, cất giọng trầm đục:

"Biết thử nước rượu gừng làm mềm vảy đá đỏ trước khi rọc giấy... Ngươi học cách này ở đâu?"

Vương Quang ngẩng đầu lên, tay trái giữ mép thước tre đè lên bản đồ: "Bẩm Thôi giám, trước đây sao chép sổ bạ ở huyện, thuộc hạ từng thấy thợ đóng sách dùng rượu nhẹ làm mềm các mép giấy dính cặn quặng ven sông."

Lão Thôi khẽ gật đầu, ánh mắt lướt qua dải vải gai quấn quanh cánh tay phải đang đặt yên của hắn:

"Cẩn thận thế là tốt. Mấy tên mới vào nghề ngoài sân nện chỉ quen vung thước kéo dây, đưa đồ bản cổ vào tay chúng thì toạc hết mép giấy."

Lão đưa ngón tay khẳng khiu bọc vải xô chỉ vào dòng sông Hát uốn lượn trên mặt giấy:

"Xem cuộn này đi. Bản đồ này vẽ luồng lạch sông Hát từ thời Hồng Đức, ghi chép cả những bãi đá ngầm trước khi bãi bồi Vạn Lộc sụp lở mấy mươi năm trước."

Vương Quang cúi nhìn mặt bàn.

Bản đồ sông Hát thời Hồng Đức vẽ tỉ mỉ từng khúc uốn. Dọc theo hai bờ sông, người xưa không chỉ chấm mốc trắc địa mà còn ghi chú độ sâu ước tính của lòng sông bằng những dòng chữ chân thư nhỏ: Thâm nhị trượng, Thâm tam trượng, Đáy đá hoa vân...

Đặc biệt, tại khúc ngoặt nơi dòng sông Hát đổ dồn qua họng hẹp, người xưa vẽ một loạt hình nêm bằng mực son điều cắm nghiêng vào dòng nước, bên cạnh đề ba chữ:

"Chỉ Thủy Nham."

Thằng Cửu ghé mắt nhìn, tò mò hỏi:

"Thầy ơi, Chỉ Thủy Nham là đá tự nhiên hay công trình xây dựng ạ? Sao trên bản đồ lại vẽ các hình nêm mực son điều so le thế này?"

Vương Quang nhìn kỹ các nét vẽ. Con ngươi mắt phải của hắn khẽ dừng lại trước cách bố trí: các hình nêm mực son không nằm lộn xộn mà xếp thành hàng so le, mũi nhọn hướng chếch ngược dòng chảy.

"Nhìn theo cách bố trí sơ đồ thì giống công trình nhân tạo hơn đá tự nhiên," Vương Quang nói: "Các mũi nêm quay ngược dòng chảy thường dùng để phân tách luồng nước xiết thành các nhánh nhỏ, giảm bớt áp lực xói vào chân bờ."

Hắn dừng lại một nhịp, nhìn kỹ dòng chú giải:

"Nhưng bản vẽ chỉ ghi ký hiệu và tên gọi. Còn bên dưới lòng sông người xưa dùng đá khối, cọc ngầm hay kết cấu gì để tạo nên thế nêm này... bản đồ không ghi rõ, không thể khẳng định được."

Lão Thôi đứng bên cạnh, nhìn vào dòng chữ Chỉ Thủy Nham, khẽ chép miệng:

"Trong sổ kho cũ có ghi chép tản mạn rằng thời trước từng thả đá đẽo hình nêm xuống lòng lạch này để giữ chân bờ đê hữu ngạn. Nhưng qua nhiều mùa lũ lớn, bùn cát bồi lấp, lại thêm người các đời sau nạo vét mở luồng thuyền bè qua lại... dấu vết các khối đá nêm ấy giờ chẳng còn ai khảo sát lại được nữa."

Nói đoạn, Lão Thôi quay người lững thững bước về bàn làm việc, tiếp tục lật giở xấp sổ đinh cũ.

Vương Quang dùng thước tre rà dọc theo mép dưới của cuộn bản đồ Hát Giang.

Tại góc lề giấy bên tả — nơi ghi chú niên hiệu và quan chức kiểm đinh — vẫn là hàng chữ quen thuộc:

"Khâm Thiên Giám Trắc thủ phụng đồ. Kiểm đinh: Thủy Đạo Chánh sứ..."

Nhưng ở góc mép cuộn giấy này, không có vết khắc chìm ba chấm hai vạch như ở cuộn bản đồ sông Đáy hôm trước.

Nơi mép giấy hoàn toàn phẳng phiu, chỉ có xơ vỏ cây dó ố vàng theo thời gian.

Vương Quang nhìn vào góc lề giấy ấy chốc lát.

Cuộn bản đồ này không có dấu ấy.

Hắn mở cuốn sổ nhật ký ghi chép của kho, dùng tay trái cầm bút, ghi lại một dòng ngắn gọn: Cuộn số 25: Bản đồ sông Hát, mép lề không có ký hiệu khắc chìm.

Một cuộn có dấu, một cuộn không có dấu. Chừng ấy dữ liệu chỉ xác nhận được sự khác biệt giữa hai hiện vật đang lưu trữ, chưa đủ căn cứ để kết luận chúng có liên quan hay không liên quan đến nhau. Hắn khép trang sổ lại, không suy diễn thêm.

Gần cuối giờ Thân, tiếng chuông thu quân từ cổng doanh sở Bắc Doanh vọng vào.

Thằng Cửu thu dọn âu sành và dập đống than ủ trong chậu đồng. Vương Quang dùng tay trái cầm con lăn cẩn thận cuộn lại bức bản đồ Hát Giang, lồng vào ống đồng rồi đóng nắp lại.

Khi hai người bước ra khỏi Giá khố, gió bấc chiều muộn thổi từng cơn khô khốc qua rặng vông trơ lá.

Dưới hàng hiên nhà kho trắc địa, vài trắc thủ trẻ đang xúm quanh một bảng gỗ treo thông báo mới dán giấy hồng điều. Thằng Cửu chạy lại ngó nghiêng, rồi quay lại bước bên cạnh Vương Quang:

"Thầy... có thông báo điều động khảo sát sau Tết dán ngoài bảng kìa."

Vương Quang bước chậm rãi lại gần mép ngoài hàng hiên.

Trên tấm giấy hồng điều đóng dấu son của Chủ sự Lương Phương, nội dung công văn phân công nhiệm vụ đầu xuân của Ty Trắc Địa ghi rõ:

"Chuẩn bị kế hoạch xuân trắc. Sau tiết Thượng nguyên, Bắc Doanh phân công ba đoàn khảo sát luồng lạch theo định kỳ: Đoàn một đo đạc bãi bồi sông Đuống; Đoàn hai cắm mốc luồng sông Cầu; Đoàn ba phối hợp với Bộ Công khảo sát tuyến luồng ngầm thượng lưu sông Hát và khu vực ải Quỷ Môn..."

Mấy trắc thủ trẻ đứng gần đó xì xào bàn tán:

"Đoàn ba đi ải Quỷ Môn thì vất vả rồi. Vùng núi đá vôi nước ngầm chảy luồn trong hang, mùa mưa lũ đo đạc rất khó cắm mốc."

"Năm ngoái một đội đo đạc của Bộ Công trên ấy gặp lũ quét bị trôi mất cả bàn đạc, đầu năm nay lại phải tổ chức đo lại..."

Vương Quang nhìn dòng chữ phân công trên tờ giấy hồng điều. Đó là những nhiệm vụ công vụ định kỳ của nha môn khi mùa khô chuẩn bị qua đi và mùa nước mới sắp tới.

Hắn khẽ rụt bàn tay phải vào trong ống tay áo bông trần. Khớp cổ tay phải vẫn còn nhức âm ỉ, nhưng những ngón tay đã có thể co nhẹ lại. Mười ngày nghỉ việc ngoài bãi sắp hết, và những công việc thực địa của Khâm Thiên Giám vẫn đang vận hành theo quy chế của nó.

Vương Quang quay người, cất bước về phía gian phòng vách đất:

"Về phòng thôi, Cửu. Đun nước ngâm thuốc nốt thang hôm nay."

"Dạ, thầy." Thằng Cửu vác chiếc giỏ đựng đồ nghề, bước nhanh theo sau.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3