Chương 128: Đêm Không Có Lũ
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
133 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 133/133 chương
Mặt trời đứng bóng qua làn sương đục, hắt xuống sân Huyện nha Bùi Khê một thứ ánh sáng lờ nhờ, vàng vọt như nước vôi tôi dở.
Gió bấc ban trưa khô và hanh buốt hơn buổi sớm, thổi từng luồng lạnh rát mặt qua hàng hiên Lại phòng. Trên thềm gạch Bát Tràng, lớp phù sa đỏ do đoàn người giẫm đạp từ mép sông về đã bắt đầu se mặt, khô cứng lại thành những mảng vảy tróc rộp, kêu lạo xạo dưới đế giày của lính tuần qua lại.
Bên trong gian phòng phía tây, cánh cửa chấn song gỗ lim được mở toang để đón chút ánh sáng tự nhiên. Không khí sực nức mùi giấy mục lâu năm, mùi giấm thanh dùng lau mốc nẹp tre và thứ mùi bồ hóng ẩm đặc trưng của những tài liệu từng được lưu giữ nơi gác xép điếm canh.
Vương Quang ngồi tựa lưng vào mép án thư gỗ kiền kiền.
Cánh tay phải của hắn vẫn được nẹp chặt bằng ba vòng vải gai tẩm gừng sao khô, ép sát vào mạng sườn để hạn chế tối đa cử động. Cơn đau thấu xương của chứng Hàn Uế sau một đêm lội bùn nay đã rút dần vào sâu trong tủy, để lại cảm giác tê dại âm ỉ, nặng trịch như có một tảng đá đè lên khớp nối cẳng tay. Hắn ngậm một lát gừng nướng khô nơi khóe miệng; vị cay nồng xộc thẳng lên xoang mũi, ghìm lại những cơn co giật vô thức của cơ bắp.
Chu Bá Cửu đứng bên cạnh, hai tay bê một chiếc khay đồng nhỏ đựng âu nước trà hoa hòe nóng bốc khói, cẩn thận đặt xuống góc bàn:
"Thầy... uống chút nước nóng cho nhuận giọng. Từ sáng tới giờ thầy chưa nuốt nổi nửa bát cháo hoa."
Vương Quang khẽ gật đầu, đưa bàn tay trái ra nhấc chén sành nhấp một ngụm nhỏ. Nước trà nóng chát đắng trôi qua cuống họng, làm dịu đi cảm giác khô rát nơi niêm mạc. Hắn không nhìn chén nước, ánh mắt vẫn ghim chặt vào chiếc giá gỗ lim kê ở góc phòng — nơi viên Thủy Ký già của bến Bùi đang run rẩy dùng chiếc sào tre có móc sắt khều từng bọc tài liệu từ trên gác lửng xuống.
Viên Thủy Ký họ Tạ trạc ngoài lục tuần, lưng còng rạp, chòm râu dê hoa râm bết bát bụi bặm. Lão mặc chiếc áo the thâm vá víu ở nẹp cổ, trên cổ tay đeo một chuỗi hạt gỗ thị bóng loáng chuyên dùng để đếm con nước.
Lão cẩn thận đặt bốn cuộn giấy bọc cật tre lên mặt án thư, hai tay phủi lớp bụi xám bám trên lớp vỏ:
"Bẩm... bẩm Ngự sử đại nhân, bẩm Ký lục gia. Đây là toàn bộ Trạm Báo Thủy Trình Bạ và Giang Độ Nhật Trình của bến Bùi trong ba năm Bảo Thái mười sáu, mười bảy, mười tám. Sổ tuần giang và mực nước thì lưu theo từng tháng... Tập này là tháng Bảy năm Bảo Thái mười tám, do Đốc khóa trạm thủy năm ấy trực tiếp ghi chép."
Thanh Diệp đứng tựa lưng vào khung cửa sổ, chiếc áo tơi tráng nhựa đường đã cởi bỏ vắt tạm lên lưng ghế, để lộ trường bào màu thiên thanh gọn gàng. Nàng nhìn lớp vỏ bọc bằng da trâu đã ngả màu sáp ong xỉn tối:
"Sổ sách này bảo quản thế nào qua trận lụt năm Vĩnh Khánh?"
Lão Thủy Ký cúi rạp người: "Bẩm Ngự sử, sổ công văn của nha môn để ở giá thấp nên ngập bùn, chứ sổ thủy trình bến đò là vật tùy thân của phu coi cọc tiêu. Theo lệ bao đời của dân sông nước, sổ theo dõi con nước luôn được bọc trong da trâu quét sáp ong, cất trên gác thượng của Điếm canh đê. Nước dâng đến đâu thì người và sổ dời lên nóc điếm đến đó. Dù vậy, qua mười chín năm ẩm mốc, nhiều trang mép giấy cũng bị ố vàng, mủn góc, chữ nghĩa có chỗ nhạt màu..."
Vương Quang đưa bàn tay trái ra, dùng đầu mũi thanh Thiết Xích gõ nhẹ lên chiếc chốt nứa đóng ngang mép tập sổ:
"Mở tháng Bảy ra. Đặt song song hai cuốn: Sổ Ghi Cọc Tiêu Mực Nước và Nhật Trình Tuần Giang."
Tập giấy bản khổ dài được trải rộng trên mặt bàn gỗ kiền kiền.
Loại giấy dùng ghi chép thủy trình là giấy dó dày ngâm qua nước vỏ vạng tẩm phèn xơ. Mặt giấy đanh lại như vỏ đỗ, chữ viết bằng thứ mực tàu pha bồ hóng dầu trẩu đen nhánh, tuy mép giấy có vết chuột gặm nham nhở và vài vệt nước ố vàng loang lổ, nhưng các cột số đo vẫn còn rõ nét.
Từng trang sổ hiện lên với các cột mục kẻ chỉ đỏ: ngày, đêm, tuần trăng, hướng gió, sắc nước phù sa, và số đo mực nước ngập cọc tiêu cắm tại chân bến đò, tính bằng thước và tấc.
Thanh Diệp rút từ trong túi văn thư ra bản tấu trình của Huyện nha Bùi Khê gửi lên Bộ Công năm ấy — bản sao lục trích xuất từ kho hồ sơ đêm qua. Nàng trải phẳng tờ tấu bên cạnh cuốn sổ thủy trình.
Dưới ánh sáng ban ngày rọi qua song cửa, hàng chữ son trên bản tấu của quan Huyện lệnh năm Bảo Thái mười tám hiện lên rành rọt:
'Đêm hai mươi mốt tháng Bảy. Mưa to gió lớn, nước lũ thượng nguồn sông Đáy đột ngột dâng cao cuồn cuộn đổ về bến Bùi. Sóng dữ cao hơn trượng xô gãy cọc tiêu, giật đứt xích neo, cuốn trôi then chốt tâm đài bát giác chìm sâu đáy sông không thể cứu vãn. Chân kè sạt lở dữ dội...'
Thanh Diệp đặt ngón tay bọc da thuộc lên dòng chữ son:
"Báo cáo của huyện ghi: Đêm hai mươi mốt, lũ lớn thượng nguồn ập về làm vỡ đài cọc."
Nàng ngước mắt nhìn lão Thủy Ký: "Đọc số đo cọc tiêu của bến đò từ ngày mười chín đến ngày hai mươi hai."
Lão Thủy Ký lần giở từng trang giấy dày kêu rào rạo. Lão rà ngón tay gầy guộc theo từng hàng chữ mực bồ hóng:
"Bẩm đại nhân... Ngày mười chín tháng Bảy: Gió đông bắc cấp hai, nước sông sắc đỏ nhạt phù sa đầu mùa. Mực nước cọc tiêu đo lúc chính Ngọ: một trượng hai thước. Lúc đầu giờ Tý: một trượng ba thước. Nước êm, thuyền bè qua lại bình thường."
"Ngày hai mươi?"
"Ngày hai mươi: Gió chuyển hướng bắc, mưa phùn rải rác. Mực nước lúc chính Ngọ: một trượng ba thước năm phân. Lúc nửa đêm giờ Tý: một trượng bốn thước. Nước dâng thêm nửa thước do mưa cục bộ, dòng chảy thông thoáng, không có rác rưởi thượng nguồn trôi dạt."
Vương Quang cúi thấp người xuống mặt bàn. Con ngươi mắt phải khẽ giật một nhịp buốt nhói khi hắn nhìn vào con số đo của ngày tiếp theo.
"Đọc ngày hai mươi mốt," giọng Vương Quang trầm xuống, đanh gọn: "Đọc từng canh giờ."
Lão Thủy Ký nheo mắt nhìn qua hàng chữ, giọng lão bắt đầu ngắc ngứ:
"Ngày hai mươi mốt tháng Bảy...
Đầu giờ Dậu: Nước cọc tiêu đo được một trượng bốn thước hai phân.
Đầu giờ Tuất: Một trượng bốn thước ba phân.
Canh ba... giờ Tý: Một trượng bốn thước năm phân.
Canh tư... giờ Sửu: Một trượng bốn thước năm phân.
Đến đầu giờ Dần... mực nước đo được: đúng một trượng bốn thước sáu phân."
Lão già dừng lại, ngẩng đầu lên nhìn hai vị quan trường, trán rịn mồ hôi.
Căn phòng Lại phòng bỗng nhiên im ắng lạ thường.
Chỉ còn tiếng gió bấc thổi qua chấn song và tiếng thở dồn dập của những người đứng quanh bàn.
Thanh Diệp nheo mắt lại:
"Một trượng bốn thước sáu phân?"
"Dạ... bẩm Ngự sử, đúng là ghi như vậy ạ," lão Thủy Ký lắp bắp: "Cọc tiêu bến Bùi cao hai trượng năm thước. Mức báo động tràn kè phải từ hai trượng trở lên. Suốt từ đêm hai mươi đến rạng sáng ngày hai mươi mốt... con nước chỉ dâng thêm đúng một tấc một phân."
Một tấc một phân.
Đó chỉ là mức dao động bình thường của con nước lớn ròng và lượng nước mưa cục bộ trong đêm. Tuyệt đối không phải tầm vóc của một trận đại hồng thủy.
Vương Quang dùng mũi Thiết Xích lật sang cuốn Giang Độ Nhật Trình cùng ngày.
Mặt giấy ghi nhật ký tuần tra của lính tuần bến đò đêm hai mươi mốt hiện ra dưới ánh sáng. Trực ban đêm hôm ấy là Đội trưởng tuần đinh Trần Văn Thao.
Những dòng chữ viết vội vã bằng mực nhạt:
*"Canh ba đêm hăm mốt. Mặt sông phẳng lặng, sương mù dày. Bến đò cấm thuyền đêm theo lệ.
Đầu canh tư... bỗng nhiên ngoài lạch sâu bến Bùi phát ra tiếng ầm ầm dưới đáy bùn. Nước tại vùng đài cọc dâu đột ngột sủi bọt đen ngòm, trào ngược xoáy tròn. Thuyền nan của lão Cả Đoan dạt vào bãi đất, lão Cả Đoan kêu cứu hoảng loạn.
Tuần đinh kéo ra mép nước thì thấy giàn tời gỗ dằn móng bị giằng đứt cáp mây, chân kè đá hộc sụt lở một mảng dài ba trượng. Dưới đáy xoáy nghe tiếng kim loại va đập. Không thấy bóng dáng thuyền lạ hay người lặn. Lập tức báo lên quan Tuần Kiểm và Huyện nha."*
Mặt sông phẳng lặng. Mực nước cọc tiêu chỉ dâng một tấc một phân. Không có sóng dữ cao hơn trượng. Không có mưa to gió lớn bạt ngàn cuốn trôi cọc tiêu.
Nhưng biến cố dưới đáy đài bát giác — nước đen trào ngược, dòng xoáy xuất hiện, giàn tời bị giật đứt và chân kè sụt lở — đã được ghi nhận xảy ra vào đầu canh tư đêm hai mươi mốt tháng Bảy.
"Đỉnh lũ thực tế đâu?" Thanh Diệp hỏi, mắt dán chặt vào trang sổ: "Nước lũ từ thượng nguồn đổ về bến Bùi vào lúc nào?"
Lão Thủy Ký run rẩy lật sang trang ngày hai mươi hai:
"Bẩm... bẩm đây ạ. Ngày hai mươi hai tháng Bảy.
Giờ Thìn: Nước thượng nguồn bắt đầu đỏ ngầu phù sa đặc, mang theo rác rưởi và cây gỗ mục trôi dạt.
Đến giờ Thân chiều ngày hai mươi hai... nước lũ mới thực sự tràn về đến bến Bùi. Mực nước cọc tiêu vọt thẳng lên hai trượng một thước, tràn qua mặt kè đá cũ, mấp mé chân đê đất."
Giờ Thân chiều ngày hai mươi hai.
Nghĩa là từ thời điểm đài cọc phát sinh biến cố ở lòng xoáy (đầu canh tư đêm hai mươi mốt) cho đến khi đỉnh lũ thực tế từ thượng nguồn quét qua bến đò (giờ Thân chiều ngày hai mươi hai), đã cách nhau hơn nửa ngày đường nước.
Thanh Diệp cúi nhìn tờ tấu trình của Huyện nha đặt cạnh trang sổ thủy trình. Nàng không đập bàn quát tháo, ngón tay bọc da thuộc chỉ miết nhẹ lên mép giấy bản:
"Hai bản ghi chép này không thể cùng phản ánh đúng một trình tự sự kiện."
Nàng ngẩng đầu nhìn Vương Quang:
"Bản tấu gửi lên Bộ Công gom toàn bộ việc sập kè, đứt xích và mất then chốt vào một cơn lũ lớn đêm hai mươi mốt. Trong khi nhật trình tuần giang và số đo cọc tiêu lại ghi nhận chân móng sụt lở từ lúc mặt sông còn phẳng lặng, nửa ngày trước khi con nước lũ thực sự đổ về."
"Hai mốc thời gian lệch nhau hoàn toàn," Vương Quang cất giọng trầm tĩnh: "Điều đó cho thấy biến cố cơ học tại đài cọc dâu xảy ra trước khi đỉnh lũ xuất hiện. Lý do 'lũ lớn cuốn trôi then chốt' trong bản tấu cũ... không đứng vững trước số đo của chính con nước năm ấy."
Thanh Diệp nhìn tập sổ, ánh mắt nàng đanh lại vẻ thận trọng của một viên chức tư pháp:
"Một bản ghi chép của trạm thủy tại chỗ, và một bản tấu trình ký chuyển lên triều đình. Sự mâu thuẫn này là căn cứ xác thực về sai lệch văn bản. Bản quan sẽ dùng ấn Ngự sử niêm phong bản sao của cả hai tài liệu, ghi rõ nguồn trích xuất từ Điếm canh và kho huyện để chuyển về Đô Sát Viện thẩm tra."
Nàng dừng lại một nhịp, nhìn quanh gian phòng Lại phòng:
"Nhưng việc ai trong Huyện nha trực tiếp sửa đổi mốc thời gian, ai ký vì bị cấp dưới qua mặt, ai ký vì cố ý che giấu trách nhiệm... những điều đó không thể kết luận ngay chỉ bằng mấy trang giấy này. Đô Sát Viện sẽ phải thẩm tra hồ sơ lưu chuyển của Thủy Đạo Ty và các ty chức liên quan mới có thể định rõ trách nhiệm."
Nàng quay sang nhìn Vương Quang:
"Còn về phía hiện trường, việc con nước lũ đến sau biến cố nói lên điều gì về kết cấu đài cọc?"
Vương Quang cúi đầu nhìn dải mo cau vẽ sơ đồ đài cọc bát giác đặt trên đùi. Hắn cầm thanh Thiết Xích Khảo Sát, dùng đầu mũi thép vạch hai đường mực song song lên mép một tờ giấy nháp đặt trên bàn:
Đường thứ nhất: Thời điểm phát sinh dòng xoáy và tiếng sụp đổ dưới đáy sông — Đêm 21 tháng Bảy, mực nước 1 trượng 4 thước 6 phân. Đường thứ hai: Thời điểm đỉnh lũ thượng nguồn tràn về bến đò — Chiều 22 tháng Bảy, mực nước 2 trượng 1 thước.
Hắn không đưa ra bất kỳ kết luận nào về việc kẻ cưa xích có ý đồ gì, cũng không phán đoán ai đã ra lệnh tháo then.
"Chúng ta chỉ biết chắc một điều," Vương Quang nói, giọng hắn phẳng lặng như mặt nước giếng: "Bản tấu của quan huyện không phản ánh đúng những gì đã diễn ra ở hiện trường dưới nước. Đài cọc dâu không phải bị dòng lũ lớn xô gãy. Nó đã bị tổn hại từ trước đó."
Thanh Diệp nhìn hai đường mực hắn vừa vạch:
"Còn kẻ đã mang cưa thép xuống lòng sông đêm ấy? Kẻ khiến sáu người thợ lặn mất tích và con dấu Tuần Kiểm phải nộp lại?"
Vương Quang khẽ lắc đầu. Hắn dùng tay trái gấp mép tờ giấy nháp lại, che đi hai mốc thời gian:
"Nhật trình tuần giang chỉ đo mực nước và ghi nhận tiếng động ngoài lạch sông. Nó không ghi tên họ của kẻ đứng trên thuyền nan, cũng không giải thích vì sao vết cưa lại dừng ở độ sâu ba phần."
Hắn ngước mắt nhìn nàng, ánh mắt kiên định và lạnh lùng:
"Chúng ta đã có đủ căn cứ để bác bỏ lời giải thích thiên tai trong hồ sơ cũ. Đó là phần việc của số liệu trắc địa. Còn kẻ đứng sau chiếc thẻ bài chữ Tống muốn làm gì, hay việc ai đã sai phái toán thợ lặn duyên hải... đó là những câu hỏi mà cuốn sổ thủy trình này chưa từng được viết ra để trả lời."
Hắn thu thanh Thiết Xích về bao vải, tựa lưng lại vào chiếc ghế gỗ kiền kiền.
Ngoài sân, gió bấc vẫn thổi từng đợt hanh nồng qua hàng hiên vắng. Một nửa sự thật của mười chín năm trước vừa được bóc tách khỏi lớp vỏ bọc thiên tai, nhưng thay vì mở ra một bản án hoàn chỉnh, nó lại để lại một khoảng trống câm lặng giữa hai trang giấy cũ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.