Bửu Sơn Trấn Quỷ Lục

Chương 115: Mật Thất Bửu Sơn

Đăng: 29/07/2026 14:33 2,216 từ 1 lượt đọc

Đêm ở Cô Tô không tối đặc như dưới tầng hầm Vạn Tín.

Nó có lớp, có chiều sâu, có những khoảng xám đen thay nhau theo mây và theo trăng. Nằm trong lều của Tư Lượm, Lê Phong nghe rõ từng tầng âm thanh tách biệt: gió cọ qua lá khô trên sườn dốc, tiếng côn trùng rền đều ở bãi cỏ thấp, tiếng gỗ mái kêu lách tách vì co lại sau một ngày phơi nắng. Cái yên ấy không mềm. Nó chỉ sạch hơn thứ ồn bẩn suốt thời gian qua.

Phong chưa ngủ hẳn thì nghe tiếng ho khục ngoài hiên.

- Ra đây.

Giọng Tư Lượm.

Anh chống tay ngồi dậy. Tuấn đã ngủ mệt ở góc trong, thở nặng nhọc nhưng đều. Thanh Hằng nằm nghiêng, mắt vẫn mở, như thể chiến tranh đã dạy cô không tin hoàn toàn vào bất kỳ mái nhà nào. Linh Nhi ngủ ít nhất bề ngoài có vẻ yên hơn mọi ngày, con mèo một tai cuộn sát hông cô như cục giẻ cũ có hơi ấm.

Phong cầm cây roi mới bước ra ngoài.

Tư Lượm đang đứng ở cuối sân, cạnh một phiến đá phẳng bị bụi phủ nửa mặt. Không nói thêm, ông cầm chiếc đèn dầu nhỏ đi trước, vòng qua hông lều ra phía sau. Ở đó có một vách đá thấp lẫn trong bụi dây, nhìn thoáng qua chẳng khác gì phần núi tự nhiên mọc tới sát nhà.

Ông chống đầu gậy xuống một khe nhỏ khuất sau bụi cỏ. Một tiếng "cạch" khô vang lên. Phiến đá trước mặt nhích ra chừng nửa gang tay rồi mở dần sang bên, để lộ miệng một lối đi dốc hẹp xuống lòng đất.

Không khí từ dưới đó thở lên, mát và mang mùi rất cũ: đất nén lâu năm, dầu lạc, tro nhang, vải mục, gỗ khô.

- Đi.

Phong theo ông xuống từng bậc đá hẹp. Lối đi chỉ đủ một người lách. Vách hai bên được chà nhẵn bằng tay người qua nhiều năm. Cuối đường là một khoang nhỏ hình chữ nhật, trần thấp, sáng bằng hai ngọn đèn dầu đặt trong hốc tường.

Đó là mật thất.

Không rộng, nhưng kín và gọn tới mức lập tức cho thấy nơi này không dùng để trốn nhất thời. Trên một vách treo đầy bùa vải cũ đã ngả màu trà. Vách còn lại là giá gỗ chứa ống tre, túi da, hộp thiếc, vài thanh sắt ngắn, những gói thảo dược phơi khô và mấy món đồ Phong không nhận ra ngay. Giữa phòng là bàn gỗ thấp phủ một tấm da dê cũ. Trên tấm da có ghim một tấm bản đồ viết tay đã sậm màu thời gian.

Tư Lượm đặt đèn xuống, gạt hòn chặn giấy bằng đá đen ở góc bản đồ.

- Lại đây.

Phong bước tới gần. Chỉ một cái nhìn, anh đã biết đây không phải bản đồ để cho khách du lịch tìm đường. Nó không ghi hàng quán, không ghi xã phường, không ghi cột mốc hành chính. Thứ được đánh dấu trên đó là núi, gò, mạch nước, miếu bỏ, nền tháp cũ, bãi đá, những đường nứt tự nhiên và bảy vị trí khoanh bằng mực đỏ sẫm thành một vòng méo ôm lấy vùng lõi Thất Sơn.

- Bảy Cọc," Phong nói.

- Ừ.

Tư Lượm dùng đầu ngón tay đã chai quét nhẹ qua bảy vòng mực đỏ.

- Tổ sư xưa gọi vậy cho dễ nhớ. Nhưng chúng không chỉ là cọc gỗ hay cọc sắt cắm dưới đất. Mỗi chỗ là một điểm đóng, một chỗ ghìm. Vật đóng có thể khác nhau theo thời: cọc lim, trụ đá, thân tượng, khóa đồng, xương thú lớn, nền miếu. Cái chính là thế ghìm.

Phong cúi thấp hơn. Ở giữa vòng bảy điểm đỏ có một vùng được tô chì rất kỹ, đậm tới mức gần như một cái lỗ trên mặt giấy.

- Cái ở giữa là gì?

Tư Lượm nhìn vào đó lâu hơn tất cả.

- Miệng.

Ông không dùng những từ cầu kỳ. Chỉ một chữ, nhưng khiến nhiệt độ căn mật thất như hạ xuống.

- Miệng gì?

- Miệng đất. Miệng khí. Miệng của một chỗ từ rất xưa đã biết nuốt.

Tư Lượm gõ móng tay xuống bàn, cộc một tiếng. "Thất Sơn không chỉ linh vì núi tụ. Nó nguy vì tụ sai một thứ. Chiến tranh, tế sống, chôn giấu, thù nhà, thù nước, mồ mả dồn cục, lời thề sai cách, xác không nhang khói. Bao nhiêu đời đổ xuống đây, đất nhớ hết. Có vùng đứng gần thôi cũng đã thấy ngực mình nặng xuống.

Phong nhìn vùng tô chì ở giữa, thấy trong đầu hiện ra đúng cảm giác anh đã chạm phải dưới B3: một khoảng trống không chết, chỉ đói.

- Bảy Cọc dùng để ghìm cái miệng đó?

- Đúng. Không bịt được hoàn toàn. Chỉ buộc nó đừng tự há lớn.

Tư Lượm đi vòng qua bên kia bàn, lấy từ giá xuống một thanh sắt đen dài bằng cẳng tay. Đầu thanh sắt có những vết rỗ nhỏ, thân quấn chỉ đỏ đã cũ.

- Đây là một đoạn thay từ cọc cũ ở hướng tây nam, mười bảy năm trước. Cọc mục, thế đất lệch. Tao cùng ba người khác phải thay giữa mùa mưa.

Ông đặt thanh sắt xuống bản đồ. "Chỉ một cọc lệch mà cả tháng đó, dân dưới chân núi ngủ mê toàn gặp xác trôi. Trâu bò tự bỏ ăn. Mấy đứa nhỏ sốt cao nói nhảm về cái hố đỏ dưới ruộng."

Phong sờ lên phần tóc bạc của mình theo phản xạ. "Vậy Vạn Tín..."

- Là lò.

Tư Lượm nói dứt khoát, như thể đã chờ anh tự nối được câu đó.

- Con đã nghĩ vậy từ lúc nhìn cái tượng. Nhưng không chắc.

- Giờ thì chắc đi.

Ông chỉ cây roi mới trên tay Phong. "Dưới Sài Gòn, tụi nó không muốn mở miệng đất ở đó. Đất đô thị tạp, người nhiều, khí loãng, nền xây chồng. Chỗ đó chỉ tiện để nấu."

- Nấu cái gì?

- Nấu huyết. Nấu oán. Nấu tín niệm giả. Nấu mọi thứ con người hiện đại có thể sản xuất hàng loạt mà vẫn tự gọi là quản trị, chữa bệnh, từ thiện, đầu tư.

Giọng Tư Lượm bình bình, nhưng mỗi chữ đóng xuống như hòn sỏi ném vào chảo gang.

- Một cơ sở như Vạn Tín có đủ máu người, đủ hồ sơ giả, đủ người mất tích, đủ tin đồn, đủ tiền để mua kín miệng, đủ thiết bị giữ nhiệt, đủ không gian ngầm để tụ. Cái pho Hắc Phật và Huyết Tâm Ngọc không phải đích. Chúng là vật dẫn. Là mồi.

Phong nhớ tới mảnh đỏ đen còn sót lại mà kẻ áo xám đã nhặt.

- Nếu chỉ là mồi, bọn chúng đâu cần làm phức tạp tới vậy?

- Cần.

Tư Lượm gằn giọng. "Vì thứ định chọc vào không phải ổ điện. Là một hệ đã bị ghìm qua nhiều đời. Muốn làm lỏng một cọc, tụi nó phải có đúng loại lực: máu đủ tươi, oán đủ dày, tín niệm đủ bẩn và vật mang đủ bền để chở thứ đó từ chỗ nấu tới chỗ đóng.

Ông lấy từ trong áo ra mảnh giấy gấp cũ khác, mở ra cạnh tấm của Khánh. Trên đó chỉ có ba nét vẽ tượng trưng: một khối vuông, một mũi nhọn và một vòng tròn đậm ở đáy.

- Sài Gòn là khối vuông. Lò. Rốn Rồng là mũi nhọn. Chỗ chọc. Còn Bảy Cọc là vòng ghìm.

Phong nhìn mà thấy mọi thứ ở Vạn Tín bắt đầu xếp lại thành một trật tự ghê tởm nhưng hợp lý. Buồng bệnh trá hình, tuyến mất tích, phòng mổ ngầm, dòng tiền, pho tượng, ngọc huyết, tất cả khóa khít vào nhau như một dây chuyền.

- Vậy việc bọn con phá Vạn Tín..." anh nói chậm, "...chỉ mới làm hỏng một dây chuyền.

- Đúng. Và nếu bọn nó kịp giữ lại hạt mồi, chúng vẫn còn vốn để sang bước sau.

Phong ngẩng lên. "Ông biết đã có người mang thứ còn lại đi?"

Tư Lượm nhìn anh, mắt nheo lại.

- Từ lúc mày đặt chân tới sân, tao đã ngửi thấy mùi đứt lò mà không đứt hẳn. Nếu cả mẻ nấu chết sạch, khí trên người mày sẽ khác. Cái mùi mày mang về là mùi của một cơ sở bị phá nhưng lõi ý đồ còn sống.

Không phải lần đầu Phong thấy ông đoán trúng, nhưng mỗi lần vẫn có cảm giác như bị ai bóc lớp da mỏng mình dùng để tự an ủi.

- Rốn Rồng ở đâu?" anh hỏi.

- Gần, mà không dễ tới.

Tư Lượm chỉ vào một điểm trên bản đồ nằm lệch phía nam vòng bảy cọc, nơi nhiều đường nét chồng lên nhau dày đặc. Bên cạnh có ghi chú bằng chữ cũ đã phai: `Tản núi`.

- Tản núi là thuật, không phải tên đất.

Ông nói. "Làm tản thế núi, bẻ dòng khí đang chạy khép thành chạy rời. Muốn bẻ được, phải gặm vào một điểm ghìm trước. Rốn Rồng là một trong những chỗ cho phép làm chuyện đó. Nếu nó thủng, thế vùng này đổi."

Phong cảm giác như ngực mình bị đặt thêm một cục đá lạnh.

- Vậy bọn nó sẽ đánh vào đây.

- Không phải sẽ.

Tư Lượm sửa. "Chúng đã bắt đầu.

Ông quay khỏi bàn, đi lấy một bát nước đục màu đất trong hốc tường rồi đặt trước mặt Phong.

- Uống.

Nước đắng, mùi như rễ cây dầm trong tro. Phong nhăn mặt nhưng nuốt hết.

Tuấn và Linh Nhi thì sao?" anh hỏi sau khi đặt bát xuống.

- Ông nói ban chiều là họ cũng có phần.

Tư Lượm chống tay lên bàn, nhìn thẳng vào anh.

- Thằng mập bị cắt tay ở giữa một lò ngầm, lại không chết. Cơ thể nó đang học lại ranh giới giữa thứ còn và thứ mất. Người như vậy nếu qua được đau chi ma thì sẽ cảm được những chỗ lực đứt cụt tốt hơn người đủ nguyên vẹn. Còn con nhỏ kia...

Ông liếc lên trần, nơi phía trên là nền lều và bóng đêm.

- Mắt nó mất đúng lúc tai mở. Chuyện đó hiếm.

Tư Lượm gãi nhẹ cằm. "Cổ Miêu tới ngồi vào lòng nó trước mặt tao càng hiếm hơn. Đất nhận nó làm tai nghe, ít nhất trong một đoạn đường nào đó.

Phong nghe mà không thấy yên tâm. Chỉ thấy trách nhiệm nặng thêm.

- Con không muốn kéo họ sâu hơn.

- Mày tưởng từ B3 bò ra rồi là còn đứng ngoài được à?

Tư Lượm hỏi cộc. "Bước xuống lò rồi, người sẽ mang mùi lò. Mùi đó không rửa bằng cồn bệnh viện. Vấn đề không phải kéo hay không kéo. Vấn đề là dạy bọn nó dùng thứ đã bị ép mở ra, trước khi kẻ khác lợi dụng.

Câu đó khiến Phong im hẳn.

Tư Lượm đẩy cây roi trong tay anh lên một chút.

- Còn mày. Từ mai, bỏ kiểu đánh bốc đầu ở thành phố. Sáng đứng chân trần ngoài sân đá, cầm roi, không phát khí, không niệm gì hết. Chỉ đứng. Nghe nền dưới gan bàn chân. Khi nào biết chỗ nào rỗng, chỗ nào đặc, chỗ nào có nước ngầm chạy, chỗ nào đá nằm ngủ, lúc đó mới nói tiếp chuyện mượn lực đất.

Phong nhếch môi. "Nghe có vẻ chán."

- Chán mới giữ mạng lâu.

Tư Lượm cuộn bớt tấm bản đồ lại, nhưng trước khi che hết, ông để ngón tay ở điểm tô chì giữa vòng Bảy Cọc.

- Nhớ kỹ cái này.

Giọng ông thấp hơn hẳn. "Đừng bao giờ ham nhìn thẳng vào miệng. Dù bằng mắt, bằng khí hay bằng lòng hiếu kỳ. Thứ đó không chỉ nuốt thịt. Nó nuốt cách người ta nghĩ về mình. Rất nhiều kẻ tưởng mình đi trừ tà, cuối cùng chỉ trở thành thức ăn biết đi vì đứng lâu quá ở mép hố.

Phong gật đầu. Trong ký ức, anh chưa từng thấy ông già nói câu nào gần với cảnh báo hơn thế.

Họ lên lại mặt đất khi đêm đã sang canh sâu.

Phiến đá khép sau lưng, trả mọi thứ về vẻ im lìm cũ. Sân lều ướt một lớp sương mỏng. Trên hiên, con mèo một tai vẫn ngồi nguyên, đuôi quấn quanh chân trước, mắt vàng lờ mờ trong bóng tối. Nó nhìn Phong một thoáng rồi quay sang triền núi phía xa như thể ca gác của nó chưa hết.

Phong đứng yên ngoài sân, cây roi dâu trong tay, lòng bàn chân cảm nhận rõ nền đất cứng dưới lớp bụi đêm.

Dưới chân anh là Thất Sơn.

Dưới Thất Sơn là Bảy Cọc.

Dưới Bảy Cọc là một cái miệng đã bị ghìm quá lâu và đang có kẻ tìm cách chọc cho nó hé ra.

Vạn Tín, sau tất cả, chỉ là nơi nhóm lửa.

Phong đứng yên ngoài sân, nghe gió đi qua triền núi và thấy cái nặng dưới gan bàn chân rõ hơn trước.

0