Bửu Sơn Trấn Quỷ Lục

Chương 172: Tiếng Gọi Trong Miệng

Đăng: 29/07/2026 14:33 2,758 từ 2 lượt đọc

Một giờ mười bảy phút sáng. Chiếu nghỉ giữa hai tầng. Bốn âm tiết bám trí nhớ Phong như bùa khắc lên xương.

Bà Tám lặp lại chúng lần thứ ba. Chậm hơn. Đều hơn. Như đếm nhịp.

- Phá Quân, Khải Môn.

Hai tiếng đầu trầm và đục, như gọi tên một vì sao xấu. Hai tiếng sau vút lên, khô khốc, như lệnh mở. Phong nhận ra. Phá Quân là một trong Thất Tinh, sao chủ chiến, chủ phá, chủ những thứ bị chôn lâu rồi được gọi dậy. Khải Môn, mở cửa. Lệnh đánh thức. Lệnh gọi một thứ gì đó từ dưới đất lên.

Đan điền Phong nhói. Vết bầm sau giấc mơ ban chiều chưa tan, giờ nhói thêm một nhịp nữa. Anh xốc Roi lên, gỗ dâu nứt dọc một đường dài, ấm trong tay. Giọng anh cắt ngang tiếng bà:

- XUỐNG!

Tuấn và Hằng đã ra tới cửa phòng phía sau lưng anh. Hằng nâng Beretta ngang hông, nòng chĩa thẳng xuống cầu thang. Tuấn nắm khung cửa, mồ hôi tay in hằn lên lớp sơn gỗ cũ.

Bà Tám không xuống. Bà chồm lên.

Người bà không bước. Là trượt. Hai bàn chân vẫn chạm sàn, nhưng không nhấc lên lấy một ly. Cả thân hình bà lướt qua ba mét hành lang trong nửa giây, vạt áo bà ba xám bay ngang, miệng vẫn há, bốn âm tiết lần thứ tư đã lên tới cổ.

PHẬP!

Phong quật Roi ngang vai bà. Cú đánh đủ để gãy xương người thường. Nhưng vai bà cứng, thứ cứng của đá bọc trong da, không còn chút đàn hồi cơ bắp. Roi nảy ngược, chấn động dội từ cổ tay lên tới khuỷu. Cánh tay phải Phong tê rần.

- Cương Thi Bì!

Anh gằn, lùi nửa bước giữ nhịp.

- Bà ấy đã bị nuôi từ trước. Lâu rồi.

Hằng không đợi giải thích thêm.

- Cúi xuống!

Phong ngả người sang trái. Cô bóp cò.

ĐOÀNG! ĐOÀNG!

Hai phát đạn xuyên qua ngực bà Tám. Ánh chớp từ đầu nòng hắt lên tường hành lang một vệt trắng rát. Nhưng người bà không khựng. Không chao. Không máu. Đạn xuyên qua như xuyên qua không khí, hai lỗ nhỏ trên áo không chảy ra gì ngoài một chút bụi mỏng. Tiếng kim loại găm vào tường gạch cuối cầu thang, rồi hai vỏ đạn rơi loảng xoảng xuống bậc gỗ.

Tuấn rú lên sau lưng Phong:

- Đụ mẹ! Đạn xuyên qua bả mà bả không chết!

Bà Tám quay đầu. Chậm. Rất chậm. Cái chậm ấy không do yếu. Nó là sự thừa thời gian của thứ không cần nhanh. Hai mắt trắng dã chiếu thẳng vào Hằng, không nhìn Phong, không nhìn Tuấn, chỉ nhìn Hằng. Nhận ra ai vừa bắn. Bà há miệng lần nữa, bốn âm tiết đã sắp ra khỏi cổ:

- Phá Quân...

Tuấn không để bà nói hết.

Gã thọc tay vào túi quần, lôi ra một nắm muối hột bọc trong vải xô. Muối từ Sài Gòn, gã đã thủ theo người từ sau vụ Ba Ngộ. Ngón tay vẫn còn run sau trận Vạn Tín, nhưng cú quăng thì không run. Gã gào lên:

- Ông cho mày! HÓA KIẾP CHO MÀY!

Cả nắm muối trắng bay thẳng vào mặt bà Tám.

XÈO!

Như mỡ rớt vô chảo nóng. Khói trắng bốc lên từ da mặt bà. Lớp da má phải nứt một đường ngang, không chảy máu, chỉ phát ra thứ hơi khô khốc như nước đổ lên vôi sống. Bà rít lên. Tiếng rít không phát từ cổ họng. Nó đến từ bụng. Trầm và dài, như tiếng cửa sắt cũ bị mở ra dưới một tầng đất.

Phong chộp khoảnh khắc đó. Anh xoay Roi, đầu cán hướng về phía trước, nhắm thẳng giữa ngực bà, nơi xương ức hõm vào. Huyệt Đản Trung.

PHẬP!

Lần này không nảy. Đầu cán Roi cắm vô. Không ngập sâu như kiếm, nhưng đủ để gỗ chạm vào trung tâm khí. Người bà Tám rúm lại. Thân hình đang cứng như đá bỗng mềm nhũn, co rút như giẻ ướt bị vắt. Hai tay buông thõng. Hai chân khuỵu. Bà ngã quỵ xuống chiếu nghỉ.

Bốn âm tiết tắt lịm giữa chừng. Tiếng rít trong bụng cũng tắt. Chỉ còn tiếng thở nặng của Tuấn sau lưng Phong và tiếng gió lạnh lùa qua khe cửa sổ cuối hành lang.

Im.

Hai mươi giây. Phong đứng yên. Roi vẫn cắm trên ngực bà. Anh chờ. Không có phản ứng nữa. Anh rút Roi ra. Đầu cán không có máu. Chỉ một lớp bụi đen mỏng, như tro nhang cũ. Hằng từ trên gác bước xuống, súng vẫn nâng. Tuấn theo sau, tay còn nắm chặt mảnh vải đựng muối đã rỗng không.

Phong cúi xuống, lật người bà Tám. Bà vẫn thở. Nhẹ. Đều. Hai mắt nhắm. Và quan trọng hơn, hai mắt đã trở lại bình thường. Mắt lành màu nâu đục của người già. Mắt mờ vẫn phủ màng trắng cũ của bệnh đục nhãn mắt. Màu trắng dã lúc nãy đã rút hết.

- Còn sống.

Phong nói khẽ.

Tuấn lắp bắp:

- Cái... cái gì vừa xảy ra vậy cha?

Phong không trả lời ngay. Anh đưa mắt nhìn xuống sàn, chỗ bà Tám vừa đứng dựa tường trước khi chồm lên. Trên nền gỗ, ngay cạnh chân tường, có một nắm tóc.

Đen. Dài. Óng. Nó không giống tóc bà; tóc bà bới củ tỏi, bạc nhiều hơn đen, khô và xác xơ. Nắm tóc này của một người trẻ. Nó nằm đó như vừa rơi ra khỏi búi tóc, được buộc bằng một sợi chỉ đỏ.

Phong nhặt lên. Đặt vào lòng bàn tay. Chỉ đỏ chưa cũ. Tóc còn mùi dầu gội, loại rẻ tiền, mùi hương nhài nhân tạo.

- Bùa thế thân cổ. Có người cài.

Bà Tám chỉ là vỏ.

Hằng hỏi:

- Ai cài? Khi nào?

- Không biết. Nhưng cài lâu rồi. Nó chờ đúng đêm tụi mình tới mới khởi động.

Tuấn nuốt nước bọt, giọng khàn:

- Trời đất ơi cha nội. Tức là tụi mình bị dụ vô đây à?

Phong gật. Anh gấp nắm tóc vào miếng vải đen Tuấn đưa.

Hằng cúi xuống cuối cầu thang gỗ. Hai vỏ đạn Beretta nằm đó, còn nguyên. Nhưng đầu đạn, không thấy. Cô nhặt vỏ đạn, bỏ vào túi. Tuấn lần theo lỗ đạn trên tường gạch, cúi xuống gần chân tường, tìm thấy hai đầu đạn. Chúng mềm, biến dạng theo kiểu bị ép dẹp khi xuyên qua một lớp chất lỏng siêu đặc, khác hẳn vết đập vào tường cứng.

- Đạn còn. Nhưng nó vừa đi xuyên qua thứ gì đó ngoài thịt.

Hắn đưa hai đầu đạn cho Phong xem.

Phong liếc nhanh.

- Tà công.

Nó không bảo vệ được hết người bà. Chỉ bảo vệ được chỗ giữ bùa.

Hằng đi lên kiểm tra phòng bà Tám. Mất vài phút. Khi cô quay ra, trên tay cô là hai nắm tóc khác, một dưới gối, một dưới chiếu, và bốn lá bùa giấy vàng dán mặt trong tủ áo. Tất cả đều buộc chỉ đỏ. Tất cả đều còn mới.

- Cả căn nhà này bị bố trí trong nhiều tháng.

Hằng nói.

Tuấn rùng mình.

- Cha nội ơi, ở đây không có chỗ nào an toàn hết.

Phong nhìn xuống cầu thang, về phía sảnh dưới. Ngọn đèn dầu hột trên bàn thờ thổ địa, đã cháy lại. Lửa vàng. Đứng. Không lắc. Như chưa từng tắt.

Anh quay sang Hằng:

- Dời. Sáng. Trước khi mặt trời lên.

Ba người khiêng bà Tám về phòng riêng ở tầng trệt, đặt bà lên giường, đắp chăn cũ. Bà vẫn thở đều. Không tỉnh. Trong lúc đó, Tuấn lấy điện thoại sạch, gõ vài phút.

- Em đặt được căn hộ ngắn hạn ở Đồng Xuân, phố Hàng Khoai, sát chợ. Sáu giờ sáng nhận chìa khóa. Chủ nhà người Bắc, không hỏi nhiều.

Bốn giờ ba mươi sáng. Họ dọn đồ. Không ai ngủ thêm. Phong ngồi xuống cạnh giường bà Tám, viết một mảnh giấy ngắn, đặt lên bàn: *Bà giữ lấy. Đây là tiền thuốc. Không tính vào tiền nhà. Đừng hỏi ai. Nếu thấy người lạ tới hỏi, đi khỏi nhà ngay.* Kèm một cọc tiền mặt.

Tuấn dán hai vạch muối hột ngang bậu cửa phòng bà Tám, cách lấy lá phép tạm bợ Phong đã dạy gã từ hồi còn ở miền Nam. Muối dính vào gỗ, lấp lánh dưới ánh đèn dầu.

Hằng kiểm tra lại nắm tóc đen đầu tiên, bọc trong vải đen, cất vào ba lô cùng với hai vỏ đạn và hai đầu đạn đã biến dạng.

Sáu giờ sáng. Sương phố Hàng Mã chưa tan. Họ bước ra cổng.

KÁCH! Cánh cổng sắt rỉ đóng phía sau.

Phong dừng nửa giây ngoài phố, nhìn lên gác hai. Cửa sổ phòng vừa ngủ, rèm xanh mờ vẫn rủ. Không có ai sau rèm. Anh đi tiếp.

Căn hộ Hàng Khoai nằm trên tầng bốn một nhà ống cũ. Cửa sổ trông thẳng xuống chợ Đồng Xuân, mái tôn sóng, dây điện chằng chịt, biển hiệu chen chúc nhau như bài chưa giải. Họ vào phòng, cắm lại router, laptop. Đèn vàng từ bóng điện trần hắt lên tường vôi ẩm.

Tuấn bật máy, cắm sạc. Hằng tháo Beretta ra lau lần nữa, thay băng đạn mới. KENG. Khóa nòng cài. Phong vào nhà tắm, rửa mặt. Trong gương mờ, anh thấy thêm vài sợi bạc nữa ở thái dương trái, mảnh và ngắn, như chỉ bạc cắm vào tóc đen. Anh lau mặt, không nhìn lâu.

Ra ngoài, Tuấn đã chụp xong nắm tóc đen qua nhiều góc. Gã gửi gói mã hóa về An Giang, cho thầy Tư Lượm. Kèm một dòng: *Thầy ơi, coi giùm con cái này. Bùa thế thân kiểu gì. Trên cái xác bà già ngoài Bắc.*

Ba mươi phút sau, sim mới rung. Tuấn bật loa. Giọng thầy Tư Lượm chậm rãi, quen thuộc, pha chất An Giang đặc sệt:

Tuấn hả con. Thầy coi rồi. Bùa này lệch khỏi Thủ Lăng. Cũng chẳng thuộc Bửu Sơn nhà mình.

Tuấn rướn người:

- Thầy nói rõ chút đi thầy.

- Tóc người sống buộc chỉ đỏ, bùa thế thân cổ. Nghĩa là cái xác bà già đó là vỏ. Người thật, chủ tóc, đang ở chỗ khác. Khi nào chủ tóc ra lệnh, vỏ chạy. Hiểu hông?

Phong lật cuốn sổ tay úp từ hôm qua. Nét mực xanh trên trang cuối vẫn còn đó, không nhòe, không phai. Bốn chữ anh viết sau giấc mơ: *Phá Quân Khải Môn*. Anh không cần đoán nữa. Cái miệng đã tự đọc lại cho anh nghe qua xác bà Tám.

Phong cầm máy.

- Thầy. Bốn âm tiết. 'Phá Quân, Khải Môn.' Thầy nhớ con không?

Đầu dây bên kia im một nhịp. Rồi giọng Thầy Tư Lượm trầm hẳn:

- Mày nghe đâu vậy con.

- Mơ. Rồi nghe lại trong miệng cái xác.

Im dài hơn lần này. Gió miền Tây rít nhẹ qua điện thoại, hay chỉ là nhiễu sóng. Khi thầy nói lại, giọng đổi, không còn chậm, mà gấp hơn một chút, như người đã quyết định phải nói ra điều không muốn nói.

- Phong. Ngoài đó có cái miệng. Đừng đứng lâu một chỗ. Mày tránh xa Cửa Bắc trong bảy ngày tới. Tao nói bằng vai thầy, không nói bằng vai chú. Mày nghe lời tao đi.

TÍT. Cuộc gọi cúp.

Phong đặt máy xuống bàn. Tuấn ngồi thừ ra. Hằng nhìn Phong, không hỏi. Cô đã hiểu.

Chiều. Chợ Đồng Xuân ban ngày đông cứng. Mùi cá khô, mùi bún đậu, mùi tạp hóa, mùi giấy bồi mã đỏ cam trộn lẫn trong thứ ánh sáng vàng đục xuyên qua mái tôn. Họ chia ba hướng. Tuấn đeo máy ảnh DSLR cũ, vào vai khách du lịch. Hằng xách giỏ, vào vai chị bán hoa quả tỉnh lẻ. Phong khoác bao đàn dán nhãn Đồng Hồ Cũ, vào vai thợ sửa đồng hồ.

Tuấn quét dữ liệu wifi trong chợ. Ba router không phát SSID, giấu hoàn toàn, nằm gọn trong khu hàng mã.

- Tụi nó cài router lậu. Gom dữ liệu lên một server đặt ở... đợi em truy... Hồng Kông. Mà mã hóa kiểu cũ, DES 56-bit. Tụi nó không nâng cấp từ 2010.

Hằng đi vòng các tiệm bán nhang. Cô đếm. Mười bốn tiệm. Số chẵn. Chợ cổ Hà Nội thường kiêng số chẵn cho tiệm nhang, phải lẻ mới hợp lẽ âm dương. Mười bốn là không bình thường.

Phong đi qua các tiệm bán quan tài giấy. Đan điền anh giật khe khẽ ở ba tiệm, tất cả đều nằm ở góc Tây Bắc khu chợ. Anh dừng lại trước tiệm thứ ba, nhắm mắt một giây. Hơi đất dưới nền gạch mát lạnh, nhưng có một nhịp ấm bất thường. Tâm trận.

- Tâm trận ở Tây Bắc chợ.

Anh nói vào bộ đàm.

- Tuấn xác nhận router thứ ba.

Tuấn đáp gần như ngay:

- Đúng. Router thứ ba nằm ngay tiệm quan tài giấy cuối dãy. Em đang cài sniffer. Cuối ngày báo lại.

Cuối chiều. Ánh nắng cuối cùng rút khỏi mái tôn, chỉ còn ánh đèn vàng từ các sạp hắt ra. Phong đi ngang một bà bán nhang già, ngồi xếp bằng cạnh đống nhang trầm bó dây vàng. Bà không rao. Không mời. Chỉ ngồi.

Anh dừng lại, cúi xuống mua một bó. Đưa tiền. Bà già không nhìn anh. Tay bà run khi cầm tiền.

Phong hỏi, giọng đều, không ép:

- Bà bán ở chợ này lâu chưa?

- Bốn mươi năm. Tôi biết hết người đến chợ. Anh ở nơi khác tới.

- Sài Gòn ra. Tôi tìm... một người.

Bà già ngẩng lên. Mắt bà không mờ. Sắc. Lạnh.

- Anh tìm Lão Tổng Đạo phải không.

Phong gật một cái. Bấy nhiêu đủ rồi.

Bà già nhìn quanh, động tác nhanh, như người đã quen kiểm tra bốn hướng trong một tích tắc. Rồi hạ giọng:

- Lão Tổng Đạo... chỉ là lưỡi hái thôi. Trên Lão còn người khác. Cái người ấy không ai dám gọi tên trong chợ. Người ta gọi là... Phế Tích...

Bà ngừng bặt giữa câu. Mặt bà tím lại. Lưỡi bà tự rụt vào trong, như bị một bàn tay vô hình nắm lấy gốc lưỡi và giật ngược. Một sợi máu nhỏ chảy ra từ khóe miệng.

- Bà ơi...

Phong đỡ.

Bà già lắc đầu. Đẩy bó nhang trầm vào tay anh.

- Đi đi. Đừng nói chuyện với tôi nữa. Tôi nói được thế là quá đủ rồi.

Phong nhận bó nhang. Đứng dậy. Đi.

Anh bước qua ba dãy hàng mã, ra tới đầu chợ, mới nói vào bộ đàm:

- Tên thứ hai. Phế Tích.

Hằng ghi vào sổ. Tuấn truy.

Hằng:

- Phế Tích?

- Bà bán nhang gãy lưỡi giữa câu.

Nói được nửa tên thì tự nín.

Tuấn vọng vào tai nghe, giọng đã pha chút hoảng:

- Trời mẹ ơi cha nội. Vừa đặt chân tới chợ một ngày là đã có tên cấm kỵ rồi. Mai rằm chợ âm mở thì còn cái gì nữa cha?

Tối. Căn hộ Hàng Khoai. Đèn vàng. Cửa sổ nhìn xuống chợ Đồng Xuân, mái tôn sóng, đèn lồng đỏ bắt đầu treo lên từng dây một cho đêm rằm. Sương xám ngoài phố mỏng hơn đêm trước, nhưng lạnh hơn.

Phong đặt bó nhang trầm bà già đưa lên bàn. Anh tháo dây buộc. Những que nhang trầm xếp khít, thơm mùi trầm cũ. Nhưng ở giữa lõi bó nhang, ngay chỗ que nhang ép chặt nhất, có một mẩu giấy vàng nhỏ.

Cuộn tròn. Bằng đầu ngón tay út. Buộc sợi chỉ đỏ.

Phong nhìn. Không mở. Không động.

Anh ngẩng lên. Tuấn và Hằng đứng cách bàn hai bước. Cả hai đều đã thấy.

- Ngày mai chợ âm mở.

Phong nói.

- Tới đó mới mở giấy.

Hằng gật. Cô rút sổ tay ra, ghi vào một dòng: *Phế Tích, tên cấm kỵ thứ hai.* Rồi gấp sổ lại.

Tuấn ngồi xuống ghế, thở dài.

- Ngày mai rằm tháng Bảy. Chợ âm. Cửa Bắc. Phế Tích. Mẩu giấy vàng. Thầy Tư Lượm nói tránh xa Cửa Bắc trong bảy ngày, mà tụi mình mai đã nhảy vô chợ âm sát nách Hoàng Thành rồi. Cái số mình nó có chữ 'chết' dính trong tên hả cha?

Không ai trả lời.

0