Chương 171: Sương Hàng Cỏ
Rạng sáng 13 tháng 7 Âm lịch. Sương đặc. Ga Hàng Cỏ.
KÉT! Tàu SE1 nghiến phanh vào ga cuối, bánh sắt rít trên thanh ray ướt. XÌN! Hơi nước phụt từ gầm toa, trắng xóa rồi tan vào lớp sương dày ngoài kia. Tách... Tách... Tách... sương đọng trên mái tôn nhỏ giọt xuống đường ray, từng giọt nặng và chậm.
Phong xốc bao đàn cũ trên vai. Bên trong chẳng có cây đàn nào. Những đoạn Thiết Lĩnh Mộc Roi đã nứt dọc thân được bọc trong vải dầu, đầu cán anh ngồi mài suốt dọc đường tàu bằng mảnh đá mạt nhỏ. Ngón tay cái vẫn còn dính bụi gỗ dâu.
CHOÉT! Cửa toa số tám bật mở.
Phong bước xuống. Chân chạm thềm gạch ẩm.
Đan điền giật buốt. Một nhịp duy nhất. Sắc và nhanh như kim đâm thẳng từ rốn xuống. Anh khựng nửa bước.
Như có thứ gì dưới đất ngó lên anh. Một chớp. Rồi quay đi.
Tuấn theo sau, môi tím, hơi thở thành khói trắng. Gã ôm ba lô điện tử trước ngực như ôm con nít.
- Sao vậy cha? Trời mẹ ơi cha nội ơi. Lạnh kiểu gì lạnh dzậy. Em ở Sài Gòn ba mươi năm, bữa nay xương em mới biết nó cũng có dây thần kinh nha.
Gã rùng mình, cánh tay trái co lại, vết hoại tử từ vụ Tầng 13 nhức lên. Cơn nhức âm ỉ quen thuộc biến mất. Thay vào đó là một mũi đau nhọn. Như kim châm. Gã văng tục:
- Mẹ kiếp ai bảo Bắc đẹp, đẹp cái đầu tao.
Phong không quay lại.
- Đi.
Họ tản ra sân ga như ba người xa lạ. Tuấn ra cửa toa sau, cách ba khoang. Hằng xuống cuối, mắt quét sân ga theo phản xạ, lối ra, camera treo tường, nhân viên gile vàng đứng gần quầy nước. Vai cô cứng. Bốn ngày tàu không làm lỏng được tư thế giữ súng. Beretta vẫn sát eo dưới áo khoác.
Ba hướng. Hợp ở cửa Nam ga sau năm phút.
Không ra hiệu. Không nhìn nhau.
Xe taxi đỗ sẵn ở góc Trần Quý Cáp. Tuấn đặt từ đêm trước, tài xế không hỏi tên, không bật đồng hồ, chỉ gật một cái rồi cho xe lăn bánh. Hà Nội sáng sớm lọt qua kính mờ. Mái ngói rêu xanh, tường vôi xỉn loang ố, cột điện dây rợ chằng chéo như tơ nhện. Cây hai bên phố im trong sương, không gió. Không một cành động.
Xe rẽ vào phố Hàng Mã.
Phong nhìn ra cửa kính. Đan điền lại giật. Một nhịp. Hai nhịp. Cách nhau khoảng mười mét đường, mỗi lần xe lướt qua một mặt tiền tiệm hàng mã. Hai bên vỉa hè, hàng mã treo lủng lẳng từ đêm chưa dọn. Nhà lầu giấy đỏ cao ba tầng. Xe hơi giấy vàng to bằng thùng bia. Điện thoại giấy, quần áo giấy, giày dép giấy chồng thành núi nhỏ trên bạt. Đèn lồng đỏ treo từ Tết chưa tháo, lắc nhẹ trong làn sương, dù không có gió.
Tuấn ngồi ghế trước, quay xuống.
- Coi nè anh Phong. Mã treo từ đêm. Bình thường mã chỉ treo lên khi mở hàng nha. Treo xuyên đêm là kỳ rồi đó.
Phong vẫn nhìn ra ngoài. Anh không đáp ngay.
- Tụ Âm Trận thấp tầng. Mỗi tiệm hàng mã đêm nay là một chấm. Cả phố nối thành lưới. Lưới này hút âm khí từ đường ngang dưới đất lên. Long mạch đang thở.
Tuấn nhăn mặt.
- Mày nói tiếng Việt được không cha? Tao nghe Hán-Việt từ sáng tao đói luôn.
- Phố này là cái phễu.
- Phễu cái gì?
- Phễu hút.
Hằng nhíu mày, không hỏi thêm. Cô ghi vào đầu.
Nhà ống cũ số 78 phố Hàng Mã. Cổng sắt rỉ, tường quét vôi vàng đã ngả sang màu bã trầu. Tuấn bấm chuông.
DING-DONG.
Im. Không tiếng chân. Không tiếng dép lê. Không tiếng người.
DING-DONG.
Vẫn im. Gã định bấm lần ba thì...
KÁCH!
Then sắt kéo. Cổng mở. Không tiếng dép. Không người tới gần. Cứ như cổng tự động mở.
Bà Tám đứng trong sân nhỏ. Khoảng bảy mươi tuổi, tóc bới củ tỏi, áo bông cũ màu nâu sẫm vá hai miếng ở khuỷu. Tay trái cầm xâu chìa khóa sắt, loại chìa cũ, dài và nặng, kiểu thợ rèn Hà Nội xưa hay làm. Mắt phải mờ đục, không hẳn mù, nhưng rõ ràng không dùng để nhìn nữa. Mắt trái còn lại quét qua ba người, không hỏi tên, không hỏi từ đâu.
- Tiền tháng trả trước. Khách quen tới đây đa số đi đêm.
Tuấn rút phong bì nâu trong túi áo khoác. Bà cầm, không đếm, bỏ thẳng vào túi áo bông rồi quay lưng đi vào.
Sảnh hẹp. Tối. Mùi vôi ẩm trộn với mùi nhang cũ và mùi dầu hỏa. Cầu thang gỗ ở góc, bậc kêu kẽo kẹt. Ở góc giữa tường và sàn, ngay dưới chân cầu thang, một bàn thờ thổ địa nhỏ. Ông Địa sành men nứt một đường từ vai xuống bụng. Đĩa trái cây héo, chuối thâm đen, cam mốc trắng, mấy quả nhãn khô quắt. Một ngọn đèn dầu hột đặt cạnh bát nhang.
Đèn đang cháy.
Lửa vàng. Đứng yên. Không lắc. Không có gió. Không có cửa nào mở.
Phong liếc qua khi bước lên cầu thang. Ghi nhận. Đặt vào một góc trong đầu. Không nói.
Lên gác hai. Bà Tám mở phòng trong, đặt chìa khóa lên bậu cửa sổ, quay lưng đi xuống. Tuấn đứng ở đầu cầu thang, mắt nhìn theo bà. Gã đếm.
Một. Hai. Ba. Bốn... Chín.
Chín tiếng dép lê cho mười bốn bậc thang.
Bà đã xuống tới sảnh. Năm bậc còn lại, không một tiếng động.
Tuấn quay vào phòng, đóng cửa, dựa lưng vào cánh cửa gỗ mỏng.
- Má ơi cái bà này đi như ma trơi nha. Tao đếm bậc thang, mười bốn bậc. Tao nghe tiếng dép có chín cái. Năm bậc còn lại bả bay hay sao trời?
Phòng trong gác hai nhỏ. Hai giường đơn, bếp gas con, bàn gỗ cũ, cửa sổ trổ ra hông phố, rèm vải xanh mờ đã bạc màu. Mùi vôi ẩm trộn mùi nhang cũ.
Tuấn cắm router 4G mini, bật laptop, rút ba sim mới khỏi vỉ nhựa.
- Ổn. SIM Bắc nhận sóng. Sim một-lần. Ai gọi vô thì là Sếp Trần. Không ai khác.
Hằng ngồi mép giường, tháo Beretta. Vải khô. Dầu. Vải khô. KENG! Khóa nòng cài lại. Cô liếc xuống bàn tay trái. Ngón út trắng bệch. Trắng như sáp nến. Thi độc từ vụ trước chưa tan hết, lạnh Bắc kéo nó nổi rõ hơn. Cử động được. Chưa chết hẳn.
Phong đứng cạnh cửa sổ, thay băng cẳng tay phải. Dịch vàng nhạt thấm gạc. Anh cắt, quấn lại, vừa đủ đè.
- Bà Tám có vấn đề.
Hằng nói.
- Biết.
Tuấn dừng tay trên bàn phím.
- Vấn đề kiểu gì? Bả đâu có nhìn tụi mình kỳ kỳ đâu cha.
- Vấn đề là bà không nhìn. Mắt mờ một bên. Đi cầu thang không nhìn chân. Không giữ lan can. Bước đều như đếm.
- Đụ mẹ.
Tuấn nuốt nước bọt.
- Chưa kịp ăn tô phở mà đã có vấn đề rồi cha.
Phong nhìn thoáng gương tròn tróc bạc trên tường. Thái dương phải có mấy sợi bạc mới nhú. Trắng giữa tóc đen. Anh đặt cuộn băng xuống. Không sờ. Quay đi.
Phong nằm xuống giường gần cửa sổ. Không định ngủ. Chỉ nhắm mắt năm phút.
Mùi rèm vải cũ. Tiếng loa phường rè rè ngoài phố, không rõ chữ. Giọng nữ đọc chậm, đều. Rồi âm thanh mất.
...
Phong đứng trên thềm đá xám. Đá ướt, không rêu, không màu. Không gió. Không bầu trời. Chung quanh xám đặc, không sáng không tối, thứ ánh sáng không có nguồn.
Phía dưới thềm, lòng đất mở ra.
Nó không giống hang hay hố. Nó là một cái miệng. Viền đá nhô lên như môi, mép trên và mép dưới hơi hé, bề rộng bằng một gian nhà. Đá ở viền nhẵn, bị mài bởi sự chà xát từ bên trong. Từ thứ đã ở trong đó rất lâu.
Bên trong miệng: xương trẻ em. Xếp tròn theo nhịp đồng tâm, nhiều lớp, từ ngoài vào trong. Không lộn xộn. Được đặt. Theo nhịp một bùa cổ Phong không nhận ra hình dạng. Nó xa lạ với Hán tự, chữ Nôm, và mọi ký tự anh từng học từ Thầy Tư Lượm.
Phong đứng yên. Định lùi.
Cái miệng nuốt một nhịp. Không di chuyển. Chỉ thắt lại rồi mở ra. Như thở.
Ngực anh bị bóp. Hụt hơi. Như có bàn tay vô hình siết vào giữa xương ức từ bên trong.
Từ trong miệng vọng lên một tiếng. Nó chẳng giống giọng người, tiếng vật, gió hay nước. Bốn âm tiết. Phong nghe rõ từng âm. Nhưng chữ không bám vào trí nhớ. Như viết lên nước. Anh cố nắm lấy chúng, nhưng chúng trôi tuột qua kẽ tay, tan vào lớp xám không màu.
Phong mở mắt.
Rèm cửa sổ còn đó. Trời ngoài kia sáng hơn, đã qua bảy giờ. Tiếng gõ phím của Tuấn vẫn đều từ góc bàn.
Mồ hôi lạnh chạy dọc xương ức. Đan điền nhói âm ỉ, không giật nữa, kiểu nhói như vết bầm bị ấn vào. Anh ngồi dậy. Yên trên mép giường một lúc. Nhìn xuống đôi bàn tay mình. Các ngón tay vẫn còn cảm giác lạnh như vừa chạm vào thứ gì ướt.
Không kể với Tuấn. Không kể với Hằng.
Anh lấy cuốn sổ tay trong ba lô, bìa da nâu, cũ, góc quăn. Mở trang trắng cuối. Cầm bút bi xanh. Viết bốn chữ. Rồi úp cuốn sổ xuống bàn.
Bốn chữ đó là gì, anh chưa nói.
Chiều tối. Ánh nắng cuối ngày cố lọt qua lớp sương ngoài phố, chỉ còn là màu vàng nhạt trên rèm vải.
Sim mới của Tuấn rung. Gã liếc màn hình, ký hiệu mã. Đẩy điện thoại sang Phong.
- Của ổng.
Phong cầm máy, bật loa nhỏ. Hằng đã ngồi dậy từ khi máy rung. Beretta vẫn trong tay cô, bản năng.
Giọng Sếp Trần khô khốc, phía sau có tiếng còi xe Sài Gòn xa xa. Ông vẫn ngoài đường.
- Tới chưa?
- Vừa tới.
- Vạn Tín bung rồi. Trên này tao đang dọn. C02 lên báo cáo, Bộ Nội Vụ điều xuống một tổ Đặc Nhiệm, lên báo lại, thằng nào xuống cũng lắc đầu. Mày ngoài đó tự xoay. Tao chỉ có đường dây này. Khi nào kẹt, gọi. Đừng gọi vô lý.
- Hiểu.
Giọng Sếp Trần đổi nhịp. Chậm hơn. Như đang đọc từ tờ giấy.
- Một chuyện. Hồ sơ Hội Thủ Lăng tao đọc lại. Có một dòng ghi Long Mạch Hoàng Thành. Tao không biết nghĩa gì. Mày để ý.
- Long Mạch. Hoàng Thành.
Phong lặp lại như ghi vào trí nhớ.
- Còn dòng nữa. 'Ngàn năm chưa khép.' Cũng không biết nghĩa gì. Tao gửi mày bản scan qua sim đó. Năm phút nữa. Đọc rồi đốt sim.
Im một nhịp. Tiếng thở của Sếp Trần nặng hơn.
- Còn một chuyện cuối.
Lão Tổng Đạo trên này có người tới hỏi.
- Ai?
- Không biết. Đi xe biển trắng. Mặc com-lê đen. Hỏi đúng tên. Tao chưa cho ai biết Lão còn sống. Mày biết tao đang nói cái gì rồi đó.
TÍT.
Cuộc gọi cúp. Phong đặt máy xuống bàn.
Hằng liếc sang anh.
- Long Mạch Hoàng Thành?
- Cửa Bắc. Hoàng Thành Thăng Long. Nút long mạch lớn nhất phía Bắc. Cổ hơn Hồ Tây. Cổ hơn Cát Linh. Một nghìn năm nay chưa ai dám động.
Tuấn ngả lưng vào tường, thở ra một hơi dài.
- Trời mẹ ơi cha nội. Chưa kịp ăn tô phở cho đàng hoàng thì đã có địa danh khóa nghìn năm. Mẹ kiếp. Em vừa đói vừa lạnh vừa sợ ma, đủ ba combo Bắc bộ rồi nha cha.
Hằng bỏ qua Tuấn.
- Ưu tiên xác minh chợ âm Đồng Xuân trước. Hồ sơ Tuấn chỉ ra ba điểm. Đi cái gần nhất. Đêm rằm tháng Bảy chợ âm mở, ngày kia là rằm.
Phong gật.
Anh nhìn xuống cuốn sổ tay úp trên bàn. Bốn chữ vừa viết khi sáng còn đó. Không lật.
Đêm. Một giờ sáng.
Loa phường rè một tiếng dài cuối cùng rồi tắt hẳn. Phố cổ Hà Nội chìm vào thứ tĩnh lặng ẩm ướt, thứ tĩnh lặng không thở ra tiếng mà thở ra mùi. Mùi bê tông cũ. Mùi cống ngầm. Mùi vôi tường.
Hằng ngủ trước. Beretta dưới gối, thói quen. Tuấn còn gõ phím, ánh màn hình xanh lét hắt lên mặt gã trong bóng tối. Phong nằm nghiêng, mặt quay vào tường. Bao đàn cũ đặt cạnh giường, dây khóa kéo mở hé.
Mười một giờ. Mười hai giờ. Một giờ sáng.
Im.
CỘP! Cán roi gỗ dâu trong bao đàn gõ vào thành vải. Một cái.
Rồi, CỘP! CỘP! Hai cái nữa.
Không ai chạm. Không có gió. Không có gì lay động trong phòng.
Phong ngồi dậy. Tuấn ngẩng lên khỏi màn hình, màn hình laptop đột ngột tắt đen. Pin còn đầy. Mạng vẫn ổn. Đèn ngoài phố vẫn sáng qua khe rèm.
- Ủa? Mất điện hả? Mà sao đèn ngoài phố nó còn?
Hằng đã dậy. Beretta đã trên tay. Cô không hỏi. Đã biết.
Phong bước tới bao đàn, đặt tay vào cán Roi. Ngón tay vừa chạm gỗ dâu, tiếng rung tắt ngay.
- Roi phản ứng. Có thứ gì trong nhà này. Tao đặt tay xuống, nó lui ra.
Tuấn nuốt nước bọt.
- Ý mày là... có thứ gì đang ở trong cái nhà này nó biết cây roi à?
- Biết. Và sợ.
Phong rút Roi ra khỏi bao. Thân gỗ dâu đã nứt dọc một đường dài, nhưng khi anh cầm vào, nó ấm lên một nhịp, thứ hơi ấm không phát ra từ tay anh.
Tuấn đứng dậy.
- Để em đi theo. Tao không... tao không ở đây một mình với hai bà chằn...
Phong lắc đầu, giọng rất nhẹ.
- Ở đây. Giữ Tuấn vậy.
Tuấn cười hì một tiếng. Méo. Không vui. Nhưng gã ngồi xuống.
Hằng đứng ở cửa phòng, Beretta nâng ngang hông, nòng chĩa ra hành lang tối.
Hành lang gác hai tối om. Đèn cầu thang tắt. Đèn sảnh dưới cũng tắt. Chỉ có ánh đèn đường ngoài phố lọt qua khe cửa sổ cuối hành lang, loang ra một vệt vàng mờ trên nền gỗ cũ, đủ để phân biệt các mảng tối.
Phong bước ra hành lang. Sàn gỗ kêu khe khẽ dưới chân anh. Roi trong tay im theo một kiểu bất thường. Im kiểu đang nín thở. Kiểu đang lắng nghe.
Anh dừng ở đầu cầu thang. Nhìn xuống.
Bà Tám đứng ở chiếu nghỉ giữa hai tầng.
Lưng tựa tường. Mặt quay ra phía hành lang gác hai. Đứng thẳng. Hai tay buông xuôi theo thân. Không dựa lan can. Không giữ thành cầu thang.
Mắt nhắm. Bất động. Như đứng đó đã lâu.
Phong nhìn xuống sảnh dưới, qua khoảng tối. Ở góc bàn thờ thổ địa, ngọn đèn dầu hột, tắt.
Anh bước một bước về phía bà. Roi trong tay rung khe khẽ, rồi ngừng. Như roi cũng đang nín thở.
Bà Tám mở mắt.
Cả hai con mắt, mắt lành và mắt mờ đục, đều trắng dã. Không tròng đen. Không lòng trắng bình thường. Chỉ trắng, đều và phẳng, như hai tờ giấy ướt ép vào hai hốc mắt.
Bà há miệng.
Bốn âm tiết phát ra.
Cùng bốn âm tiết Phong đã nghe trong giấc mơ ban chiều.
Lần này, chúng bám vào trí nhớ. Như móc câu. Như đinh đóng.
Phong nhận ra ngay. Bốn âm tiết anh đã từng nghe, chỉ một lần, từ miệng Thầy Tư Lượm, năm anh mười sáu tuổi, trong một câu cấm kỵ. Anh đã quên gần hết. Chỉ nhớ thầy nói: nghe được nó là thấy được nó. Mà thấy được nó, là tới lượt mình.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.