Quyển 10: Đại Hội Vạn Đạo
Chương 2: Người Giữ Kiếm, Người Giữ Sổ
Trầm Hương Giải Chấp - Xuyên Nhanh
Mục lục
212 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 212/212 chương
Sáng hôm sau, lệnh kiểm tra vẫn chưa được thu hồi.
Ba xe Huyền Băng Thạch được chuyển khỏi cổng Tàng Kiếm Các, đưa đến một kho tạm dưới quyền dịch trạm phía đông. Người của Lam Vân Tông giữ bản kê hàng hóa, người của Đạo Luật Ty giữ biên bản đình chỉ, còn Tiêu Hoài phải ký vào cả hai bản xác nhận rằng hàng đã được bàn giao nguyên trạng.
Ba bên đều có chữ ký.
Không bên nào chịu nhận trách nhiệm cho việc hàng hóa bị giữ lại.
Tiêu Hoài bước ra khỏi kho, sắc mặt khó coi. Hắn tìm thấy Tạ Vô Nhai và Thẩm Vân Nhược ở cuối con đường lát đá, nơi một mái hiên bỏ trống che được mưa nhưng không che được gió lạnh từ sườn núi.
“Bọn họ giữ cả ba xe chỉ vì một thùng lệch trọng lượng,” hắn nói. “Đến khi ta yêu cầu cân lại, người của Đạo Luật Ty bảo phải chờ người phụ trách sổ trận đồ. Người của Lam Vân Tông lại nói họ chỉ xác nhận hàng đã đến, không xác nhận trọng lượng lúc xuất kho.”
“Vậy ngươi đã ký những gì?” Thẩm Vân Nhược hỏi.
“Biên bản bàn giao và biên bản bảo quản. Ta ghi rõ sai lệch chỉ được phát hiện tại điểm giao nhận, không xác nhận nguyên nhân.”
Nàng gật đầu.
“Được. Ít nhất ngươi chưa nhận thay trách nhiệm của người khác.”
Tiêu Hoài thở ra, rồi lấy từ trong tay áo một mảnh giấy gấp nhỏ.
“Có một chuyện khác. Lúc chờ đóng dấu, ta nghe người giữ kho nói rằng chiều nay sẽ có người đến đối chiếu vật chứng liên quan đến bệ chuyển vận số bảy. Không phải kiểm tra hàng hóa. Họ muốn xem những thứ được thu lại sau sự cố.”
Tạ Vô Nhai ngẩng đầu.
“Vật chứng nào?”
“Ta không biết. Người giữ kho không nói rõ. Nhưng hắn nhắc đến một bản kê riêng do Giám Sát Ty lập.”
Thẩm Vân Nhược nhìn về phía sườn đông.
Nếu Giám Sát Ty thực sự bắt đầu đối chiếu vật chứng, họ sẽ cần xác định thứ gì đã bị thu giữ, thứ gì còn nằm trong tay các đơn vị liên quan và thứ gì chưa được ghi nhận đầy đủ. Đó là cơ hội để lần theo dấu vết của cơ chế then khóa dưới nền móng Phong Lôi.
Nhưng cũng có thể là cái bẫy.
Một vật chứng chưa được công khai thường có giá trị lớn nhất vào lúc các bên còn tranh nhau quyền xác nhận nó thuộc về ai.
“Chúng ta cần xem bản kê ấy,” Tạ Vô Nhai nói.
“Không thể cứ thế đi vào Giám Sát Ty.”
“Ta không định đi vào.”
Hắn nhìn Tiêu Hoài.
“Ngươi còn nhớ ai đã lập biên bản bàn giao hàng hôm qua không?”
“Là một chấp sự của dịch trạm. Người giữ kho chỉ đóng dấu.”
“Đưa ta tên đơn vị của hắn.”
Tiêu Hoài ngập ngừng.
“Ngươi muốn tìm người lập biên bản?”
“Người lập biên bản biết hàng được giao cho ai. Người giữ kho biết hàng đang ở đâu. Người giữ sổ biết vì sao nó bị giữ lại. Ba người không nhất thiết là cùng một người.”
Tạ Vô Nhai đứng lên. Cẳng tay trái nặng trĩu dưới lớp băng, khiến động tác của hắn chậm hơn thường ngày.
“Ta chỉ cần biết bản kê vật chứng đang nằm ở đâu trước khi có người quyết định rằng chúng ta không được phép biết.”
Người lập biên bản tên là Trình Dục, một chấp sự cấp thấp thuộc dịch trạm phía đông.
Hắn không có quyền xem hồ sơ trận pháp, càng không thể quyết định việc niêm phong vật chứng. Công việc của hắn là ghi nhận người giao, người nhận, thời điểm và tình trạng hàng hóa. Khi có tranh chấp, hắn chuyển hồ sơ lên cấp trên rồi chờ xử lý.
Đó vốn là một công việc ít ai để ý.
Cho đến khi ba cơ quan cùng muốn sử dụng một tờ biên bản.
Tạ Vô Nhai tìm thấy Trình Dục ở gian phòng bên cạnh kho lưu trữ. Hắn không tự giới thiệu là người liên quan đến sự cố bệ chuyển vận, chỉ đưa ra thẻ bài của đoàn vận chuyển và hỏi về quy trình bổ sung sai lệch trong biên bản hôm trước.
Trình Dục xem thẻ, sau đó nhìn cẳng tay trái được băng kín của hắn.
“Ngươi thuộc đoàn hàng Huyền Băng Thạch?”
“Ta đi cùng người áp tải.”
“Muốn sửa biên bản thì phải có xác nhận của người giao hàng và người nhận hàng.”
“Ta không sửa. Ta muốn biết nếu một vật được bàn giao nguyên trạng nhưng số liệu trước đó không khớp, trách nhiệm sẽ được ghi thế nào.”
Trình Dục nhìn hắn thêm một lần.
“Ngươi hỏi chuyện này làm gì?”
“Vì ta không muốn một sai lệch không rõ nguyên nhân bị ghi thành sai phạm của người vận chuyển.”
Câu trả lời khiến Trình Dục dịu đi đôi chút.
Hắn lấy một quyển sổ mỏng, mở đến trang ghi quy trình xử lý tranh chấp.
“Trong trường hợp chưa xác định được nguyên nhân, biên bản phải ghi rõ thời điểm phát hiện và đơn vị đang giữ hàng. Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi đã ký nhận. Nếu có lệnh kiểm tra bổ sung, đơn vị ra lệnh phải ghi rõ căn cứ.”
Tạ Vô Nhai nhìn những dòng chữ ngay ngắn.
“Vậy nếu có một bản kê vật chứng chưa xác định được nguồn gốc, ai có quyền giữ nó?”
Trình Dục khép sổ lại.
“Đó không phải chuyện của dịch trạm.”
“Nhưng người vận chuyển có thể bị gọi đến đối chất?”
“Có thể.”
“Vậy người vận chuyển có quyền biết mình bị đối chất về vật gì?”
Trình Dục không trả lời ngay.
Câu hỏi ấy nằm ngoài công việc thường ngày của hắn, nhưng không phải không có căn cứ. Nếu một người bị yêu cầu giải trình về vật chứng, ít nhất phải có văn bản xác định phạm vi giải trình. Nếu không, người bị hỏi có thể bị buộc phải nhận trách nhiệm cho những thứ họ chưa từng nhìn thấy.
“Ngươi muốn xem bản kê?” Trình Dục hỏi.
“Ta muốn biết có vật nào trong đó được ghi nhận là đã chuyển khỏi nền móng Phong Lôi hay không.”
Ánh mắt Trình Dục thay đổi.
“Ngươi biết gì về sự cố ấy?”
“Biết rằng người ta đang dùng nó để giữ hàng hóa của chúng ta.”
Tạ Vô Nhai không nói thêm.
Trình Dục nhìn ra cửa. Bên ngoài, một nhóm đệ tử đang chuyển thùng gỗ vào kho. Tiếng bước chân và tiếng gọi nhau che lấp cuộc trò chuyện trong gian phòng nhỏ.
“Ta không thể đưa ngươi xem hồ sơ của Giám Sát Ty,” hắn nói. “Nhưng ta có thể nói rằng sáng nay có người đến yêu cầu đối chiếu những biên bản liên quan đến vật chứng chưa xác định chủ sở hữu. Họ không lấy hồ sơ gốc. Họ chỉ sao chép số hiệu.”
“Người của Giám Sát Ty?”
“Ta không được phép xác nhận.”
Tạ Vô Nhai gật đầu.
“Đủ rồi.”
Hắn quay người rời đi.
Trình Dục gọi hắn lại.
“Ngươi nên cẩn thận. Từ hôm qua đến giờ, đã có ba người đến hỏi về cùng một nhóm biên bản. Một người muốn kiểm tra, một người muốn giữ nguyên, người còn lại chỉ hỏi xem ai đã xem qua chúng.”
Tạ Vô Nhai dừng chân.
“Người thứ ba là ai?”
“Ta không biết. Nhưng hắn không mang phù hiệu của Đạo Luật Ty hay Giám Sát Ty.”
Khi Tạ Vô Nhai trở lại mái hiên, Thẩm Vân Nhược đã có thêm một tin khác.
Người của Lam Vân Tông vừa đưa ra thông báo nội bộ: trước khi hoàn tất việc đối chiếu sổ trận đồ, ba mảnh Hàn Sương Kiếm sẽ không được rời khỏi Tàng Kiếm Các. Mọi yêu cầu kiểm tra đều phải có chữ ký của Lam Xương Uyên và người phụ trách bảo quản kiếm.
“Ít nhất bây giờ ta biết ai có quyền ký,” nàng nói.
“Lam Xương Uyên và người giữ kiếm.”
“Chưa đủ. Một người có thể ký cho phép kiểm tra, nhưng chưa chắc có quyền quyết định mang kiếm ra khỏi các.”
Nàng mở một mảnh giấy, ghi hai dòng rồi gấp lại.
“Chúng ta cần phân biệt ba việc: ai giữ kiếm, ai có quyền cho người khác nhìn kiếm, và ai có quyền quyết định kiếm được đưa đến đâu.”
Tạ Vô Nhai nhìn nàng.
“Ngươi nghĩ ba quyền ấy nằm trong tay ba người?”
“Ta không biết. Nhưng nếu chúng nằm trong tay cùng một người, hắn sẽ là người đầu tiên bị các thế lực khác gây sức ép. Nếu nằm trong tay nhiều người, chúng ta phải tìm ra nơi các quyền ấy giao nhau.”
Nàng cất mảnh giấy.
“Chúng ta không cần đột nhập. Chỉ cần biết ai sẽ phải xuất hiện khi một yêu cầu hợp lệ được đưa đến.”
Tạ Vô Nhai gật đầu.
“Vậy phải khiến họ nhận một yêu cầu.”
“Không phải yêu cầu của chúng ta.”
Thẩm Vân Nhược nhìn về phía khu nghị sự.
“Yêu cầu của Giám Sát Ty.”
Đầu giờ chiều, văn thư của Giám Sát Ty được đưa đến Tàng Kiếm Các.
Nội dung không dài. Cơ quan này yêu cầu Lam Vân Tông xác nhận liệu ba mảnh Hàn Sương Kiếm có được đưa khỏi nơi bảo quản trong khoảng thời gian xảy ra sự cố bệ chuyển vận số bảy hay không, đồng thời đề nghị đối chiếu các ghi nhận liên quan đến dao động trận pháp ở nền móng Phong Lôi.
Không có yêu cầu giao kiếm.
Không có cáo buộc Lam Vân Tông liên quan đến sự cố.
Chỉ có một yêu cầu xác nhận.
Nhưng chính yêu cầu ấy khiến người phụ trách Tàng Kiếm Các phải đến gặp Lam Xương Uyên.
Nếu ba mảnh kiếm chưa từng rời khỏi nơi bảo quản, Lam Vân Tông có thể dùng hồ sơ ra vào để chứng minh điều đó. Nếu đã có người tiếp cận kiếm, họ phải xác định người ấy là ai và được phép đến gần trong phạm vi nào.
Cả hai trường hợp đều buộc Tàng Kiếm Các phải mở một phần hồ sơ vốn được giữ kín.
Lam Xương Uyên đọc văn thư, không lập tức ký xác nhận.
“Giám Sát Ty muốn đối chiếu thời gian xảy ra sự cố với việc bảo quản Hàn Sương Kiếm?”
“Đúng vậy,” người đưa văn thư đáp. “Họ nói đây chỉ là bước xác minh, không có nghĩa Lam Vân Tông bị xem là đối tượng điều tra.”
“Nhưng một khi ta ký, bản xác nhận sẽ trở thành căn cứ để họ yêu cầu thêm hồ sơ.”
Người kia im lặng.
Lam Xương Uyên đặt văn thư xuống.
“Ta sẽ trả lời đúng phạm vi được hỏi. Ba mảnh kiếm chưa được đưa ra khỏi Tàng Kiếm Các theo lệnh của ta. Những việc khác cần kiểm tra hồ sơ gốc.”
Ông ký tên, đóng ấn rồi giao lại văn thư.
Đó không phải nhượng bộ.
Ông đã xác nhận một sự thật mà mình có thể chịu trách nhiệm, đồng thời từ chối để lời xác nhận ấy bị mở rộng thành sự cho phép kiểm tra toàn bộ Tàng Kiếm Các.
Nhưng một khi văn thư được gửi đi, Giám Sát Ty sẽ có căn cứ để hỏi tiếp về những người từng được phép tiếp cận kiếm.
Trong số đó có những người không thuộc Lam Vân Tông.
Sở Hàn Y nhận được bản sao văn thư chưa đầy một canh giờ sau.
Hắn đọc xong, đặt nó cạnh Huyền Thiên Bàn.
“Lam Xương Uyên không giao kiếm, nhưng đã xác nhận kiếm chưa rời khỏi nơi bảo quản theo lệnh của ông ta.”
Tùy tùng gật đầu.
“Vậy Giám Sát Ty chưa có được thứ họ muốn.”
“Không. Họ có được một điểm để bắt đầu.”
Sở Hàn Y xoay bàn ngọc. Vệt kim trên mặt bàn rung nhẹ, lần này không hướng về Tàng Kiếm Các mà lệch xuống phía chân núi, nơi những tuyến vận chuyển đang bị kiểm tra.
“Có người muốn tìm vật chứng từ nền móng Phong Lôi. Có người muốn giữ ba mảnh kiếm. Có người muốn dùng cuộc điều tra để kiểm soát tuyến vận chuyển.”
Hắn dừng tay.
“Nhưng nếu cả ba đều tiếp tục làm theo cách hiện tại, họ sẽ sớm phát hiện có một khoảng trống trong hồ sơ.”
“Khoảng trống nào?”
“Chưa ai chứng minh được rằng vật chứng ở nền móng Phong Lôi và ba mảnh Hàn Sương Kiếm có liên hệ trực tiếp. Họ chỉ đang dựa vào thời điểm và dao động trận pháp.”
Tùy tùng suy nghĩ một lát.
“Vậy chúng ta bán tin này cho Đạo Luật Ty?”
“Không.”
Sở Hàn Y cất Huyền Thiên Bàn.
“Đạo Luật Ty đã biết họ cần giữ khoảng cách giữa hai vụ việc. Nếu chúng ta nói điều đó, họ sẽ chỉ trả tiền để xác nhận một thứ họ đã biết.”
Hắn lấy một thẻ ngọc khác.
“Gửi cho Giám Sát Ty danh sách những điểm cần đối chiếu để xác minh thời gian. Không đưa ra kết luận. Nếu họ muốn biết ai từng tiếp cận kiếm, họ phải tự mở hồ sơ của Lam Vân Tông.”
“Còn Lam Vân Tông?”
“Chưa bán.”
Tùy tùng ngạc nhiên.
Sở Hàn Y nhìn hắn.
“Không phải thông tin nào cũng cần bán ngay. Đôi khi để một bên tự nhận ra họ đang bị buộc phải mở hồ sơ sẽ khiến họ trả giá cao hơn.”
Hắn đặt thẻ ngọc vào hộp, khóa lại.
“Chờ xem ai là người đầu tiên không chịu nổi sự chậm trễ.”
Ở Đạo Luật Ty, Bùi Khuyết cũng nhận được bản sao văn thư.
Hắn đọc lời xác nhận của Lam Xương Uyên, rồi chuyển sang bản kê vật chứng từ nền móng Phong Lôi.
Hai hồ sơ không mâu thuẫn.
Nhưng cũng không chứng minh được điều gì ngoài những gì đã ghi.
Bùi Khuyết đặt chúng cạnh nhau, lấy Định Mệnh Bút đánh dấu một dòng trong bản kê: thời điểm thu giữ vật chứng chưa được đối chiếu với thời điểm kiểm tra Hàn Sương Kiếm.
Hắn không yêu cầu Lam Vân Tông giao kiếm.
Cũng không yêu cầu Giám Sát Ty ngừng điều tra.
Hắn chỉ ra lệnh bổ sung mốc thời gian cho từng hồ sơ, đồng thời cấm các đơn vị liên quan dùng bản ghi nhận dao động trận pháp thay thế cho chứng cứ về việc một vật cụ thể đã được di chuyển.
Người nhận lệnh đọc xong, có vẻ do dự.
“Đại nhân, nếu phải đối chiếu từng mốc thời gian, việc điều tra sẽ chậm hơn.”
“Vậy hãy làm nhanh hơn.”
“Nhưng có thể phát sinh tranh chấp về thẩm quyền.”
“Tranh chấp thẩm quyền không phải lý do để bỏ qua chứng cứ.”
Bùi Khuyết đặt bút xuống.
“Gửi lệnh đi.”
Người kia lui ra.
Bùi Khuyết nhìn hai hồ sơ nằm cạnh nhau.
Hắn không cần tạo ra một kết luận có lợi cho Tạ Vô Nhai. Chỉ cần không cho phép các bên biến suy đoán thành căn cứ cưỡng chế, hắn đã khiến cuộc điều tra phải đi qua những bước mà người ta vốn muốn bỏ qua.
Nhưng việc ấy cũng có cái giá của nó.
Một khi các hồ sơ được đối chiếu, những người đang lợi dụng sự nhập nhằng sẽ không còn dễ dàng giấu mình sau danh nghĩa công vụ. Họ sẽ phải chọn: tiếp tục làm theo quy trình và để lộ những khoảng trống, hoặc tự ý vượt quyền rồi để lại dấu vết rõ ràng hơn.
Bùi Khuyết không biết lựa chọn nào sẽ xuất hiện trước.
Hắn chỉ biết từ giờ trở đi, mỗi lệnh mới sẽ buộc người ký phải chịu trách nhiệm cho nội dung của nó.
Cuối buổi chiều, một người lạ tìm đến bến sà lan nơi gã quản sự áo lông sói đang xem sổ giao nhận.
Người ấy không mang hàng, không đưa khế ước và cũng không hỏi mua tuyến vận chuyển. Hắn đặt lên bàn một mảnh đồng mỏng, trên mặt khắc một dấu hiệu đã bị mài gần hết.
Gã quản sự nhìn mảnh đồng.
Không ai trong bến lên tiếng.
“Ngươi lấy thứ này ở đâu?” hắn hỏi.
“Người giữ khế ước cũ đưa cho ta.”
“Người nào?”
“Ông ta không muốn để lại tên.”
Gã quản sự cầm mảnh đồng lên, lật mặt sau. Ở đó có một đường khắc ngắn, chạy ngang qua tâm dấu hiệu đã mòn.
Hắn không hỏi thêm.
Dấu hiệu ấy không đủ để chứng minh người mang nó có quyền đại diện cho bất kỳ thế lực nào. Nhưng đường khắc phía sau cho thấy mảnh đồng từng được dùng để xác nhận một giao dịch giữa những người không muốn tên mình xuất hiện trong sổ công khai.
Một vật như thế có thể là chìa khóa để mở lại một quan hệ cũ.
Cũng có thể là mồi nhử.
“Người giữ khế ước muốn gì?” gã quản sự hỏi.
“Ông ta muốn biết Hắc Lân Phường còn nhận lại những người đã rời mạng lưới hay không.”
“Còn ngươi?”
Người lạ nhìn hắn.
“Ta muốn biết câu trả lời trước khi mang nó về.”
Gã quản sự đặt mảnh đồng xuống.
“Bảo ông ta rằng Hắc Lân Phường không thu người chỉ vì họ từng thuộc về nơi này.”
Người lạ không tỏ vẻ bất ngờ.
“Vậy phải làm gì?”
“Đưa ra khế ước hiện tại. Ghi rõ quyền vận chuyển còn giữ, những khoản nợ chưa thanh toán và người đang chịu trách nhiệm. Nếu muốn quay lại, phải trở lại bằng thứ mình còn nắm trong tay.”
“Ông ta có thể không đồng ý.”
“Vậy thì không quay lại.”
Gã quản sự đẩy mảnh đồng về phía người lạ.
“Ta không cần những cái tên cũ để trang trí sổ sách.”
Người lạ nhận lại mảnh đồng, nhưng chưa đứng lên.
“Còn Hắc Lân Vệ?”
Bàn tay gã quản sự dừng lại.
“Ngươi hỏi thay ai?”
“Ta chỉ hỏi.”
“Vậy câu trả lời cũng chỉ là câu trả lời.”
Hắn nhìn thẳng người đối diện.
“Hắc Lân Vệ không phải một đám người chỉ cần gọi tên là sẽ xuất hiện. Những người còn sống có vị trí của họ, có điều phải giữ và có món nợ riêng. Muốn họ cùng đứng lên, trước hết phải có lý do khiến họ tin rằng việc ấy đáng để trả giá.”
Người lạ cúi đầu, cuối cùng cất mảnh đồng vào áo.
“Ta sẽ chuyển lời.”
Gã quản sự không giữ hắn lại.
Khi người kia rời đi, hắn mở ngăn kéo, lấy ra một cuốn sổ cũ. Nhiều trang đã bị xé, những cái tên còn lại chỉ ghi bằng ký hiệu. Hắn lật đến một trang gần cuối, đặt mảnh giấy nhỏ bên cạnh một dấu khắc tương tự.
Hai dấu không hoàn toàn trùng nhau.
Nhưng đủ để chứng minh có người đang tìm cách khôi phục một quan hệ đã bị cắt đứt từ lâu.
Gã quản sự khép sổ.
“Cuối cùng cũng có người chịu đưa khế ước ra.”
Đêm xuống, Tạ Vô Nhai và Thẩm Vân Nhược nhận được tin Giám Sát Ty đã gửi yêu cầu đối chiếu hồ sơ bảo quản Hàn Sương Kiếm.
Không phải lệnh giao kiếm.
Không phải lệnh khám xét.
Chỉ là yêu cầu xác nhận mốc thời gian.
Nhưng lần này, Thẩm Vân Nhược không xem đó là một bước tiến nhỏ.
“Lam Xương Uyên đã phải ký tên. Giám Sát Ty đã có căn cứ để hỏi tiếp. Đạo Luật Ty không thể tự ý kết luận hai sự cố có liên quan.”
Tạ Vô Nhai nhìn nàng.
“Vậy người giữ kiếm sẽ phải xuất hiện?”
“Ít nhất, người chịu trách nhiệm cho hồ sơ bảo quản sẽ phải xuất hiện. Chúng ta chưa biết có phải cùng một người hay không.”
“Chừng nào?”
“Có thể là ngày mai. Cũng có thể họ sẽ kéo dài việc đối chiếu.”
Tạ Vô Nhai đứng dậy, kiểm tra lại lớp băng trên cẳng tay trái. Hắn không thể dựa vào sức mạnh để vượt qua Tàng Kiếm Các, càng không thể ép Lam Xương Uyên giao kiếm. Nhưng nếu cuộc đối chiếu buộc người giữ kiếm phải xuất hiện trước Giám Sát Ty, họ sẽ có cơ hội quan sát người ấy và xác định bước tiếp theo.
Thẩm Vân Nhược kéo áo khoác lên vai.
“Chúng ta không được để lộ rằng mình đang chờ người giữ kiếm.”
“Ta biết.”
“Và nếu ngày mai không có ai xuất hiện?”
“Thì chúng ta tìm cách khác.”
Nàng nhìn hắn một lúc, rồi khẽ gật đầu.
Ngoài kia, những ngọn đèn trên sườn đông lần lượt được thắp lên. Cổng Tàng Kiếm Các đã đóng. Hàn Sương Kiếm vẫn ở bên trong. Không ai biết cuộc đối chiếu sẽ kết thúc bằng một chữ ký, một cuộc tranh cãi hay một mệnh lệnh mới.
Nhưng từ thời điểm Lam Xương Uyên đặt ấn lên văn thư, ba mảnh kiếm không còn chỉ là vật được cất giữ sau một cánh cửa.
Chúng đã trở thành một phần của hồ sơ mà nhiều thế lực cùng muốn kiểm soát.
Và khi một vật bước vào hồ sơ của quyền lực, người giữ nó sẽ sớm phải trả lời một câu hỏi khó hơn việc bảo vệ nó:
Nếu không ai được phép lấy kiếm đi, vậy ai có quyền quyết định kiếm phải tiếp tục nằm yên?
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.