Quyển 8: Những Kẻ Không Thuộc Về Số Phận
Chương 19: Giao Điểm Trên Đường Ray
Xuyên Thành Phản Diện Ta Chỉ Muốn Sống Nhàn
Mục lục
159 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 159/159 chương
Mười một giờ ba mươi phút đêm.
Mưa phùn giăng mắc trên những thanh ray hoen rỉ của Ga hàng hóa Shinto.
Khu bãi tập kết toa xe phế liệu trải rộng hơn hai cây số vuông, nằm kẹp giữa dòng kênh đào đen ngòm và bức tường bê tông ngăn cách khu liên hợp công nghiệp nặng. Hàng chục toa chở than đá, toa bồn chứa hóa chất cũ và những khối container mục nát xếp thành từng dãy dài dằng dặc, tựa như một mê cung sắt thép khổng lồ chìm trong bóng tối câm lặng.
Mùi rỉ sắt ẩm ướt quyện chặt với mùi dầu hỏa và bụi than lưu cữu lâu ngày bốc lên ngai ngái.
Bên trong lòng một toa chở than không mui đã rỉ thủng đáy — toa số 11 — Elise Vance ngồi nép mình vào góc vách thép cong vênh.
Nàng mặc chiếc áo khoác dạ đen phủ đầy bụi xỉ, đầu đội mũ len kéo thấp che kín trán. Dải vải thô bọc bụi than nén vẫn quấn chặt quanh ngực và bả vai trái, giữ cho luồng nhiệt từ các Mạch Ma Thuật (Magic Circuits) không tiếp tục bộc phát lên bề mặt da thịt. Nhờ lớp đệm than và vị trí khuất gió dưới lòng toa thép, vùng vai chỉ còn lại cảm giác ê ẩm âm ỉ.
Một tiếng kim loại khẽ chạm vào bậc thang sắt bên ngoài thành toa.
Cạch.
Âm thanh cực nhỏ, khô khốc và đều đặn.
Elise không rút dao găm. Nàng nhận ra nhịp điệu của bước chân ấy — chậm rãi, tiết kiệm cử động và không mang theo sự rình rập của một kẻ đi săn.
Một bóng người trèo qua gờ thép rỉ, bước xuống lớp xỉ than dưới đáy toa xe.
Arthur Pendelton mặc chiếc áo măng-tô màu tro xám cài kín cổ, chiếc ô đen gập gọn cầm ngang tay, đầu gậy ba-toong chạm nhẹ xuống sàn kim loại phát ra một tiếng cộc trầm đục. Hắn đặt chiếc đèn bão nhỏ xuống sàn, xoay nhẹ nắp chắn sáng bằng đồng để luồng sáng chỉ lọt ra thành một khe mỏng dưới chân, vừa đủ nhìn thấy mặt sàn giữa hai người.
Khoảng cách dừng lại ở sáu bước chân. Không ai tiến thêm.
"Nó không tan đều," Elise lên tiếng trước, chất giọng khàn đặc bị bóp nghẹt dưới lớp khăn len.
Arthur không ngắt lời. Ánh mắt sau tròng kính phẳng lặng quan sát từng cử động nhỏ của đối phương.
"Sau khi hai bên ngoài bìa rừng rút lui," Elise tiếp tục, ngón tay tì lên mép vách thép lạnh ngắt, "những đợt dư chấn trong không khí không suy giảm theo cùng một tốc độ. Có một hướng mà sự rung giật của ma lực lắng xuống chậm hơn rất nhiều so với các khu vực khác."
Arthur khẽ nghiêng đầu: "Hướng nào?"
"Về phía hạ lưu con kênh. Khu vực gần chân cầu cạn đường sắt," Elise đáp, ánh mắt sắc lạnh nhìn thẳng vào người đối diện. "Ở đó, cảm giác co thắt dưới da kéo dài lâu hơn gần mười phút."
Arthur khẽ gật đầu. Hắn không ngạc nhiên trước khả năng cảm nhận của nàng; một cơ thể từng chịu đựng những vết mổ chắp vá luôn có những phản xạ thô sơ với các dòng chảy ma thuật mà dụng cụ đo đạc chuẩn mực của Tháp Đồng Hồ khó lòng nắm bắt tức thì.
Hắn thò tay vào túi áo trong, rút ra một bản vẽ kỹ thuật bằng giấy dầu đã ngả màu ố vàng, mở một góc trên mặt hòm gỗ mục:
"Dưới chân cầu cạn có một trạm điều phối thủy lợi ngầm, xây dựng từ năm 1888 theo quy chuẩn công trình xả lũ đô thị. Bản vẽ lưu trữ cho thấy độ sâu khoang trung tâm lên tới mười lăm mét dưới đáy kênh."
Hắn dừng lại, ngón tay trỏ đặt lên dòng chữ ghi chú bằng tiếng Anh cổ ở góc bản vẽ:
"Hồ sơ kỹ thuật cũ được bàn giao qua một công ty trung gian đăng ký tại Luân Đôn, nhưng kinh phí bảo trợ lại gắn liền với con dấu dải lụa quấn ba lá phong. Nhật ký vận chuyển trước thời kỳ chuyển giao hành chính từng ghi nhận nơi đó tiếp nhận một số chuyến hàng chứa dung dịch bảo quản mẫu vật hữu cơ."
Elise nhìn vào bản vẽ: "Bên trong hiện giờ có gì?"
"Tôi chưa từng bước xuống đó, nên tôi không thể biết," Arthur điềm đạm đáp. "Tôi chỉ biết hồ sơ cũ ghi nhận nó từng lưu trữ dung môi bảo quản."
"Còn dùng được không?"
"Tôi nói là từng," Arthur nhấn mạnh, giọng nói không mang theo chút cam đoan nào. "Một công trình bỏ hoang hơn một thập kỷ có thể đã ngập nước, có thể đã mục rỗng, hoặc có thể đã bị dọn sạch. Đó là rủi ro của cô."
Hắn lật sang mặt sau của bản vẽ, chỉ vào sơ đồ một cánh cửa sắt nặng:
"Cửa xả phía nam nằm sau tấm lưới chắn rác dưới gầm cầu cạn. Bản vẽ cũ thể hiện khóa cửa là hệ thống bánh răng cơ khí ba tầng. Van thứ hai phải xoay ngược chiều kim đồng hồ hai vòng trước khi mở chốt khóa dưới cùng. Trong hồ sơ lưu trữ không ghi nhận kết giới cảnh báo; còn hiện tại hệ thống đó có bị thay đổi hay cài đặt thêm thứ gì hay không, tôi không có căn cứ để xác nhận."
Elise đưa tay nhận lấy bản vẽ gấp nhỏ. Nàng miết nhẹ ngón tay lên mép giấy dầu:
"Đổi lại, ngài cần gì?"
"Nếu cô lại gặp những biến động tương tự," Arthur nói, giọng đều đều, "hãy nhớ xem dư chấn mạnh lên ở đâu và yếu đi ở đâu. Những kẻ mang vũ khí cổ đại kia có thể tự do di chuyển, nhưng chúng không thể tùy ý thay đổi nơi ma lực tích tụ. Tôi cần biết hướng vận động của những điểm trũng đó để bảo đảm các báo cáo của Ban Giám Sát không đặt nhầm vị trí."
Nàng cung cấp một giác quan thực địa mà hắn thiếu; hắn cung cấp một cánh cửa kỹ thuật cũ mà nàng không có quyền tiếp cận. Một cuộc trao đổi không hứa hẹn, không bảo đảm an toàn, và mỗi mảnh giấy rời khỏi tay Arthur đều để lại một vết tích hành chính có thể bị lần ra nếu có biến cố.
"Được," Elise cất bản vẽ vào túi áo ngực.
Nàng vừa nhấc chân định trèo qua vách thép thì khựng lại.
Lách cách... cộc.
Một tiếng ma sát kim loại rất khẽ vang lên từ khoảng tối giữa hai dãy toa xe chở hàng cách đó chừng ba mươi mét. Đó không phải tiếng gió thổi làm rung lắc những tấm tôn rỉ; nó là nhịp điệu của những khớp nối cơ khí di chuyển trên nền đá dăm.
Kèm theo đó là mùi ngai ngái của da thuộc ngâm chất bảo quản quyện với mùi dầu máy bốc lên trong làn mưa ẩm.
Elise lập tức hạ thấp trọng tâm, lưng ép sát vào vách thép, bàn tay phải trượt xuống nắm chặt chuôi dao găm bên hông.
Arthur không rút vũ khí. Ngón tay trỏ của hắn nhanh chóng chụp lấy nắp đồng của chiếc đèn bão, xoay nhẹ một góc dứt khoát. Khe sáng mỏng dưới chân lập tức tắt phụt, dìm toàn bộ lòng toa xe vào bóng tối đặc quánh.
Qua một lỗ thủng hoen rỉ trên thành toa, Elise nheo mắt nhìn ra ngoài.
Giữa hai làn đường ray ngập nước, ba bóng người mảnh khảnh đang sải bước lướt đi trên nền đá.
Chúng mặc áo choàng xám không mũ, khuôn mặt đờ đẫn không có biểu cảm của sự sống. Những mắt kính tròn màu vàng nhạt gắn chặt vào hốc mắt chúng thỉnh thoảng lại lóe lên ánh sáng mờ đục khi chuyển hướng nhìn. Các ngón tay của chúng dài ngoằng, gắn cố định những lưỡi thép đen có răng cưa không phản chiếu ánh sáng.
Và ngay trên khung cầu vượt tín hiệu bằng sắt bắc ngang qua bãi đường ray phía trên đầu, bóng hình thứ tư đang ngồi xổm, cánh tay dài bằng kim loại bám chặt vào thanh giằng, hướng thấu kính mắt nhìn thẳng xuống nóc các toa xe.
Bốn cơ thể nhân tạo. Một mạng lưới tuần tra cơ học khép kín.
Chuyển động của chúng cứng nhắc nhưng chuẩn xác một cách kỳ quái. Không có tiếng đập cánh của familiar dạng thú, không có hơi ấm sinh học, chỉ có tiếng nhông xích truyền động rất khẽ bên dưới lớp da thuộc xám xịt.
Một trong ba bóng người dừng chân ngay trước bục thang sắt của toa số 11. Đầu nó khẽ nghiêng sang một bên. Từ sâu trong cổ họng của nó phát ra một tiếng rung rè rè rất nhỏ, tựa như chuyển động của những bánh răng kim loại bên trong một chiếc hộp kín đang dò tìm phương hướng.
Mắt kính màu vàng nhạt của nó từ từ ngước lên, hướng thẳng vào khe hở của vách toa xe nơi hai người đang đứng.
"Một đơn vị tuần tra cơ giới tầm thấp," Arthur thì thầm, hơi thở của hắn đều đặn đến mức gần như vô thanh, môi mấp máy sát vành mũ của Elise. "Kẻ điều khiển chúng đang phong tỏa các nút giao đường sắt. Nếu cô phát tán ma lực để tiêu diệt chúng, toàn bộ bãi hàng này sẽ biến thành tâm chấn báo động."
"Ta không dùng ma thuật," Elise đáp cộc lốc, ngón tay siết chặt lấy chuôi dao găm bằng thép đặc. "Chúng không có mắt nhìn trong bóng tối; chúng chuyển động dựa trên thấu kính khuếch đại ánh sáng và cảm biến chấn động mặt sàn."
KẸT!
Cánh tay bọc thép đen của con rối dẫn đầu bất thần bổ xuống thành toa xe.
Lưỡi đoản đao răng cưa cắm phập vào mép thép rỉ, xé toạc một mảng kim loại mục nát. Cùng lúc đó, bóng hình trên cầu vượt tín hiệu buông tay, rơi tự do xuống nóc toa số 11 tạo nên một tiếng uỳnh nặng trịch làm rung chuyển toàn bộ khung xe.
Hai con rối còn lại trên mặt đất lập tức tản ra hai bên sườn, các lưỡi dao răng cưa xòe ra thành hình nan quạt, khóa chặt lối cầu thang sắt duy nhất dẫn xuống đường ray.
Trong không gian chật hẹp chưa đầy sáu mét vuông của lòng toa chở than, không khí lập tức đặc quánh lại.
Con rối đầu tiên đu người qua mép thành toa, đôi mắt kính vàng rực lên, lưỡi dao trên tay phải quét ngang một đường sắc lẹm nhắm thẳng vào vị trí của Arthur. Đòn đánh không mang ma lực, nhưng quán tính cơ học và độ sắc của hợp kim đen đủ sức chém đứt đôi một thân cây tuyết tùng.
Arthur không lùi. Hắn hạ thấp chiếc ô đen, đầu bọc bạc của cây gậy ba-toong đâm thẳng vào mắt xích khớp vai của con quái vật.
CỘC!
Một đòn chặn cơ học chuẩn xác đến từng milimét. Đầu gậy ba-toong chọc trúng khe hở giữa hai đĩa đệm kim loại, mượn chính lực lao tới của con rối để hất lệch hướng chém của lưỡi dao sang một bên. Lưỡi thép đen cắm phập vào thành toa đối diện, tóe lên một chùm tia lửa chói mắt.
Chỉ cần nửa nhịp lệch đó.
Bóng đen của Elise đã trượt qua khoảng trống dưới nách con quái vật.
Nàng không kích hoạt Mạch Ma Thuật. Không có ngọn lửa, không có xung chấn. Đốt sống C3 giật nảy lên một nhịp buốt nhức khi nàng vận toàn bộ sức mạnh cơ bắp của thân thể, nhưng nàng nghiến chặt răng, biến trọng lượng cơ thể thành một mũi khoan sống.
Cánh tay trái của nàng quặp lấy sợi xích sắt dùng để khóa cửa xả đáy toa xe, giật mạnh một góc nghiêng.
Sợi xích rỉ sét bay vút lên, quấn chặt lấy cổ chân của con rối thứ hai đang trèo lên bục thang sắt. Elise đạp mạnh gót giày vào chốt hãm, mượn lực đòn bẩy quật ngã con quái vật xuống lớp đá dăm bên dưới.
RẦM!
Con rối ngã đập lưng xuống đường ray. Trước khi nó kịp điều chỉnh lại góc xoay của bánh răng cổ, Elise đã lao xuống theo. Nàng quỳ một gối lên lồng ngực bọc da của nó, tay phải cầm con dao găm cắm ngập vào khe hở sau gáy — nơi phát ra tiếng rung rè rè của lõi truyền động.
Rắc! Phụt!
Lưỡi dao thép đặc vặn mạnh một vòng tròn. Dầu máy đen ngòm bắn phụt ra sàn đá dăm, kèm theo những tia lửa chập mạch li ti. Con quái vật co giật hai cái rồi nằm bất động, đôi mắt kính màu vàng lụi tắt hoàn toàn.
Vết rách ở bắp chân trái của Elise toác miệng, máu tươi rỉ qua lớp gạc ướt đẫm, thấm đỏ cả cổ chân. Nàng cắn chặt môi để không bật ra tiếng rên rỉ, ngước mắt nhìn lên.
Con rối trên nóc toa xe đã nhảy xuống. Cùng với con rối còn lại từ sườn phía tây, hai bóng đen đang khép chặt gọng kìm, lưỡi đao răng cưa giơ cao chuẩn bị giáng xuống lưng nàng.
Khoảng cách chỉ còn ba bước chân.
Đúng lúc đó, từ bệ chuyển ray số 3 cách đó mười lăm mét, một tiếng kim loại nặng nề vang lên chói tai.
RẮC... RẦM!
Arthur Pendelton đã rời khỏi lòng toa xe từ lúc nào. Hắn đứng trên bệ thao tác bằng sắt, hai bàn tay dùng toàn lực gạt mạnh chiếc cần bẩy chuyển làn đường ray vốn đã bị rỉ sét lâu năm. Chiếc cần bạt xuống vị trí khóa, đồng thời chiếc gậy ba-toong của hắn chọc thẳng vào then cài của bánh xe hãm một toa chở quặng nặng ba mươi tấn đang đỗ trên đoạn dốc nghiêng số 4.
Chiếc then sắt bật tung.
Toa chở quặng khổng lồ mất điểm tựa, từ từ trôi dốc theo quán tính. Trọng lượng hàng chục tấn sắt vụn và đá dăm lăn bánh trên đường ray nghiêng, phát ra những tiếng nghiến ken két đinh tai nhức óc, lao thẳng vào khoảng trống giữa toa số 11 và làn đường tiếp viện.
UỲNH!
Toa quặng đâm sầm vào thành chắn kim loại, hất tung con rối đang lao tới văng xa hơn mười mét, kẹp chặt một cánh tay kim loại của nó dưới bánh thép nặng nề. Lối đi giữa hai dãy toa xe lập tức bị bít kín bởi một bức tường thép di động.
Trước khi con rối thứ tư kịp chuyển hướng tiếp cận, Arthur rút từ túi áo măng-tô ra một chiếc còi kim loại sáng loáng — loại còi cứu hộ khẩn cấp ba lỗ tiêu chuẩn của ngành đường sắt Luân Đôn.
Hắn ngậm còi, thổi liên tiếp ba hồi dài, chói gắt và sắc nhọn:
TU... ÉT! TU... ÉT! TU... ÉT!
Mã hiệu báo động hỏa hoạn và tai nạn trật bánh cấp độ cao của đường sắt phàm trần.
Âm thanh kim loại xé toạc màn đêm tĩnh mịch của khu công nghiệp Shinto, dội ngược vào các bức tường bê tông, vang xa hàng cây số.
Chỉ ba mươi giây sau.
Từ phía cổng chính của ga hàng hóa, tiếng còi hụ dồn dập của xe tuần tra cảnh sát và đèn pha công suất lớn của đội bảo vệ đường sắt đồng loạt quét sáng rực cả một góc trời. Tiếng động cơ xe tải nổ giòn giã, tiếng bước chân rầm rập của lực lượng tuần tra phàm trần ập vào bãi ray.
"Khu vực số 4! Có tai nạn trôi toa xe! Bật toàn bộ đèn pha khu bốc dỡ!" tiếng loa phóng thanh phàm trần gầm lên qua màn mưa.
Trước luồng ánh sáng chói lòa của hàng chục ngọn đèn pha quét tới, con rối còn lại khựng lại.
Mệnh lệnh giữ kín Bí Ẩn được cài đặt sâu trong lõi điều khiển lập tức kích hoạt: Trước sự hiện diện của hàng chục cặp mắt người thường và lực lượng vũ trang đô thị, việc tiếp tục truy sát sẽ trực tiếp phá hủy quy chuẩn của thế giới ma thuật.
Con rối cụt tay nằm dưới gầm xe bất ngờ phát ra một tiếng nổ lách tách nhỏ, lõi ma thuật bên trong tự hủy thành một đám khói đen hôi thối. Bóng đen còn lại trên mặt đất lập tức xoay người, lướt nhanh qua các kẽ hở của container, biến mất vào màn mưa mịt mùng phía bờ kênh đào.
Bãi hàng chỉ còn lại tiếng còi xe cảnh sát và tiếng kim loại va chạm của toa quặng đang nguội dần.
Trong bóng tối dưới gầm cầu cạn đường sắt cách đó năm mươi mét, nơi làn nước đen ngòm của con kênh đào đang cuộn sóng xả lũ.
Elise Vance tựa lưng vào mố cầu bê tông ẩm ướt, hơi thở đứt quãng phả ra từng luồng khói trắng.
Vết thương ở bắp chân buốt nhói, nhưng nàng đã kịp nhét mẩu bản vẽ kỹ thuật vào túi áo trong trước khi trượt xuống lòng mương thoát nước. Nàng nhìn thấy ánh đèn pha quét qua những thanh ray phía trên đầu, nhìn thấy bóng dáng chiếc áo măng-tô màu tro xám đang thong thả bước ra phía làn đường chính.
Không có lời cảm ơn. Không có sự ngoái nhìn.
Người đàn ông đó đã giải quyết cuộc phục kích bằng chính thứ công cụ phàm trần tàn nhẫn nhất: Kéo trật tự của con người vào để bóp nghẹt những kẻ săn mồi ma thuật.
Elise dùng đầu dao găm cạy chốt tấm lưới chắn rác bằng sắt dưới chân mố cầu.
Một khoang cống hộp đen ngòm, sâu hun hút hiện ra, mang theo luồng gió lạnh buốt và tiếng nước chảy róc rách sâu dưới lòng đất mười lăm mét. Nàng thu mình lại, lách người qua khe sắt hẹp, chìm hoàn toàn vào lòng đất tăm tối của thành phố Shinto, hướng về phía trạm thủy lợi ngầm năm 1888.
Cùng lúc đó, tại lối ra bãi ray số 3.
Arthur Pendelton chỉnh lại chiếc khăn quàng cổ, chiếc ô đen giương cao che làn mưa phùn đang nặng hạt. Hắn bình thản bước ra khỏi cổng rào sắt, nơi một viên cảnh sát trưởng phàm trần và hai nhân viên an toàn đường sắt đang hốt hoảng chạy tới với súng ngắn và đèn pin trên tay.
"Đứng lại! Ai ở đó?" viên cảnh sát quát lớn, chĩa đèn pin vào mặt Arthur.
Arthur không hề nao núng. Hắn thong thả thò tay vào túi áo ngực, rút ra một chiếc thẻ bọc da màu xanh thẫm mang con dấu dập nổi của Ban Giám Sát Tháp Đồng Hồ kèm theo giấy phép quan sát dân sự liên tịch có chữ ký của Bộ Nội Vụ sở tại:
"Arthur Pendelton, quan sát viên kỹ thuật độc lập. Tôi đang đi bộ kiểm tra hành lang an toàn phụ tải đường sắt thì phát hiện chốt hãm của toa quặng số 4 bị gãy do rỉ sét lâu năm. Tôi vừa thực hiện quy trình thổi còi cảnh báo khẩn cấp theo điều lệ an toàn công cộng."
Viên cảnh sát nhìn chiếc thẻ da, rồi nhìn sang bộ âu phục phẳng phiu và phong thái đĩnh đạc, lạnh lùng của người đàn ông ngoại quốc trước mặt, vẻ nghi ngờ nhanh chóng chuyển thành sự lúng túng của cấp dưới trước một thanh tra cấp cao:
"Thưa... thưa ngài, ngài không bị thương chứ? Khu vực này rất nguy hiểm..."
"Tôi bình an," Arthur điềm đạm ngắt lời, chỉ tay về phía đống đổ nát của toa xe quặng. "Có dấu hiệu phá hoại cơ học trên hệ thống bánh răng chuyển ray. Các vị nên lập biên bản phong tỏa toàn bộ bãi hàng này trong ít nhất hai mươi tư giờ tới để rà soát an toàn kỹ thuật. Tôi sẽ chờ bản sao biên bản sự cố tại văn phòng khách sạn vào sáng mai."
"Rõ, thưa ngài thanh tra! Chúng tôi sẽ tiến hành phong tỏa ngay lập tức!"
Arthur khẽ nâng nhẹ vành mũ, chống gậy ba-toong từng bước thong thả bước qua làn xe cảnh sát đang nhấp nháy đèn đỏ, hòa mình vào màn đêm của khu phố mới.
Hai người đã bước ra khỏi vòng vây theo hai hướng hoàn toàn đối nghịch: Một kẻ chui sâu vào cỗ máy ngầm dưới đáy thành phố để tìm kiếm dung môi duy trì sinh mạng; một kẻ đứng trên mặt đất, dùng giấy tờ và luật lệ phàm nhân để dựng nên một bức tường phong tỏa chia cắt toàn bộ mạng lưới tiếp vận của kẻ thù.
Chiếc then cài của cuộc chiến Fuyuki đã chính thức bị bẻ gãy, và cánh cửa dẫn xuống những bí mật bị chôn vùi dưới lòng đất đã mở toang.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.